Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 488

Bản dịch

JA 488Chuyện củ sen (Tiền thân Bhisa)

5. Bhisajātaka

2010. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy ở đời này hãy đạt được ngựa, voi, bạc, vàng, và người vợ hợp ý; cầu cho gã hãy có nhiều con, có nhiều vợ.”

2011. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy mang tràng hoa, mặc vải Kāsi , và thoa bột trầm hương; cầu cho kẻ này hãy có nhiều con; cầu cho gã hãy thể hiện sự ham muốn tột độ ở các dục.”

2012. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy là người nông dân có nhiều thóc lúa, có danh tiếng; hãy là người tại gia có nhiều con cái, có tài sản, đạt được tất cả các dục; cầu cho gã hãy trú ngụ ở nhà, không nhận biết tuổi tác của bản thân.”

2013. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy là vị Sát-đế-lỵ có hành động bạo lực, là vị vua trên các vị vua, có sức mạnh, có danh tiếng; cầu cho gã trú ngụ ở trái đất bao gồm cả bốn phương.”

2014. Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy là vị Bà-la-môn chưa xa lìa luyến ái, chuyên chú vào thời khắc và đường đi của các vì sao; cầu cho vị chúa của vương quốc có danh tiếng hãy tôn vinh kẻ ấy.”

2015. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho tất cả thế gian hãy quý trọng kẻ có sự khắc khổ, chuyên học tập trọn vẹn đầy đủ bộ Kinh Vệ Đà; cầu cho dân chúng sau khi hiểu rõ hãy tôn vinh kẻ ấy.”

2016. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy hưởng thụ ngôi làng cao quý, thịnh vượng, có bốn sự dư thừa (về nhân lực, thóc lúa, củi, nước), bởi vì đã được ban tặng bởi vị Chúa của chư Thiên; cầu cho gã hãy chạm trán Thần Chết lúc vẫn chưa xa lìa luyến ái.

2017. Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho kẻ ấy hãy là người trưởng làng đang vui sướng với các điệu vũ, với các lời ca ở giữa bạn bè; cầu cho gã chớ gánh chịu bất cứ sự bất hạnh nào từ phía đức vua.”

2018. “Thưa vị Bà-la- môn, cô nàng nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho vị vua độc nhất đã chinh phục trái đất hãy thiết lập cô nàng vào ngôi vị chánh hậu trong số một ngàn nữ nhân; cầu cho cô nàng hãy là người quý phái trong số các phụ nữ.”

2019. “Thưa vị Bà-la- môn, cô nàng nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho cô nàng ấy có thể thọ dụng thức ăn ngon ngọt một cách thản nhiên ở giữa tất cả các nữ tỳ đã tụ hội lại; cầu cho cô nàng hãy sống phô trương về lợi lộc.”

2020. “Thưa vị Bà-la- môn, kẻ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho gã hãy là vị thường trú ở ngôi tự viện lớn; cầu cho gã hãy là người làm công việc xây dựng tại thành phố Kajaṅgalā (rộng một do-tuần); cầu cho gã hãy kiến thiết cửa sổ nội trong một ngày.”

2021. “Thưa vị Bà-la- môn, con voi nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho nó hãy bị trói buộc bởi một trăm sợi xích ở sáu chỗ (bốn chân, cổ, và hông); cầu cho nó hãy bị dẫn đi từ khu rừng đáng yêu đến kinh thành; cầu cho nó hãy bị hành hạ bởi những cây giáo nhọn, bởi những gậy móc câu.”

2022. “Thưa vị Bà-la- môn, con khỉ nào đã lấy đi các củ sen của ngài, cầu cho nó có đeo vòng hoa bạch tiền, bị chì xuyên thủng lỗ tai, bị hành hạ bởi roi vọt; cầu cho nó hãy đi đến gần miệng rắn (ở trò biểu diễn khỉ và rắn); cầu cho nó hãy đi lang thang ở đường phố, bị cột trói cẩn thận.”

2023. “Thật vậy, kẻ nào đối với vật không bị mất mà đã nói là: ‘Bị mất,’ cầu cho kẻ ấy hãy nhận được và hưởng thụ các dục; cầu cho gã hãy chạm trán Thần Chết ở giữa ngôi nhà (vì đã không được xuất gia). Và thưa các ngài, kẻ nào trong số các vị nghi ngờ về bất cứ ai (thì cũng gánh chịu như vậy).

2024. “Chúng lang thang ở trên đời, trong khi tầm cầu vật ưa thích và vật mong muốn, là vật được yêu quý, vật làm vừa lòng đối với số đông ở tại nơi này, ở thế gian của cuộc sống. Vì sao các vị ẩn sĩ không ca ngợi các dục?”

2025. “Thật vậy, chúng bị hành hạ và bị trói buộc ở các dục; khổ đau và nguy hiểm được sanh ra ở các dục; các vị quân vương bị say đắm ở các dục; vì si mê, chúng làm các hành động xấu xa.

2026. Sau khi tạo ra tội ác do bản chất xấu xa, d0 sự hoại rã của thân, chúng di chuyển đến địa ngục. Sau khi nhìn thấy điều bất lợi ở các loại dục, vì thế, các vị ẩn sĩ không ca ngợi các dục.”

2027. “Trong khi xem xét các củ sen của vị ẩn sĩ, ta đã cầm lấy chúng ở bờ hồ và đã cất giấu ở trong đất. Các vị ẩn sĩ sống trong sạch, không xấu xa. Thưa vị thực hành Phạm hạnh, các củ sen này là của ngài.”

2028. “Chúng tôi không phải là các vũ công của ngài, hơn nữa không là những người có thể đùa giỡn. Chúng tôi không là bà con, hơn nữa không là bạn bè của ông. Thưa vị nâng đỡ kẻ khác, thưa bậc có ngàn mắt, thưa đấng Thiên Vương, liên quan đến việc gì mà ông đùa giỡn với các bậc ẩn sĩ?”

2029. “Ngài là vị thầy của ta, và là người cha của ta. Thưa vị Bà-la- môn, nơi nương tựa này là dành cho người bị phạm lỗi lầm. Thưa vị có trí tuệ uyên bác, xin ngài hãy tha thứ cho một sự sai trái. Các bậc sáng suốt không có năng lực của sự giận dữ.”

2030. “Một đêm của các vị ẩn sĩ đã được trải qua tốt đẹp! Là việc chúng ta đã gặp được đấng Thiên Chủ, chúa của các Thiên thần. Thưa các vị, xin tất cả các vị hãy hoan hỷ, bởi vì vị Bà-la- môn đã nhận lại các củ sen.”

2031. “Khi ấy, Ta cùng với Sāriputta, Moggallāna, Kassapa, Anuruddha, Puṇṇa, và Ānanda đã là bảy anh em.

2032. Khi ấy, Uppalavaṇṇā đã là cô em gái, Khujjuttarā đã là người tớ gái. Khi ấy, gia chủ Citta đã là người tôi trai, Sātāgira đã là Dạ-xoa.

2033. Khi ấy, voi Pārileyya đã là con voi, Madhuda đã là con khỉ thủ lãnh. Khi ấy, Kāḷudāyī đã là Thiên Chủ Sakka. Các ngươi hãy ghi nhớ chuyện Bổn Sanh như vậy.”