Bản dịch
JA 487 — Chuyện nam tử Uddalaka (Tiền thân Uddalaka)
4. Uddālakajātaka
1994. “Có y da dê thô cứng, tóc bện, có răng bị đóng bợn, có bộ dạng lấm lem dơ bẩn, các vị này lẩm nhẩm. Phải chăng các vị ấy, trong sự rèn luyện thuộc về nhân gian, là những vị hiểu biết thế gian này, và đã được hoàn toàn thoát khỏi các đọa xứ?
1995. Tâu bệ hạ, nếu người có nhiều kiến thức làm các hành động xấu xa, và không thực hành thiện pháp, người đã không đạt được sự thực hành, dầu có một ngàn sự hiểu biết, không vì điều ấy mà có thể thoát khỏi khổ đau.”
1996. “Người đã không đạt được sự thực hành, dầu có một ngàn sự hiểu biết, không vì điều ấy mà có thể thoát khỏi khổ đau. Ta nghĩ rằng các sự hiểu biết là không có kết quả, chính sự thực hành với sự tự chế ngự là chân lý.”
1997. “Các sự hiểu biết không hẳn là không có kết quả, chính sự thực hành với sự tự chế ngự là chân lý. Bởi vì người sau khi học tập các sự hiểu biết thì đạt được danh tiếng, còn với sự thực hành, người đã được huấn luyện đạt đến sự an tịnh.”
1998. “Người mẹ, người cha, các quyến thuộc là những người cưu mang. Kẻ đã được sanh ra từ người nào thì đương nhiên thuộc về người ấy. Con là Uddālaka, là người thuộc dòng dõi gia tộc Sotthiya của ngài.”
1999. “Này con, thế nào là vị Bà-la-môn? Thế nào là người có sự toàn hảo? Và thế nào là sự hoàn toàn diệt tắt? Như thế nào được gọi là vị đứng vững ở thiện pháp?”
2000. “Sau khi khước từ (thế gian) và thờ phượng thần lửa, trong khi hành lễ rưới nước, trong khi dâng hiến, vị Bà-la-môn nâng cao cây gậy tế thần. Với sự thực hành như vậy, là vị Bà-la-môn, là người có sự an ổn. Do việc ấy, người đời đã công nhận là vị đứng vững ở thiện pháp.”
2001. “Không có sự trong sạch với việc hành lễ rưới nước, vị Bà-la-môn cũng không có sự toàn hảo, không có sự nhẫn nại, cũng không có sự hiền hòa; vị ấy cũng không được hoàn toàn diệt tắt.”
2002. “Vị Bà-la-môn ấy là thế nào? Người có sự toàn hảo là thế nào? Và thế nào là sự hoàn toàn diệt tắt? Như thế nào được gọi là vị đứng vững ở thiện pháp?”
2003. “Là người không ruộng vườn, không bà con, không ích kỷ, không mong cầu, không tham lam xấu xa, đã được cạn kiệt tham ái trong các hữu. Với sự thực hành như vậy, là vị Bà-la-môn, là người có sự an ổn. Do việc ấy, người đời đã công nhận là vị đứng vững ở thiện pháp.”
2004. “Các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô bộc, các người hạ tiện, các người hốt rác, tất cả đều hiền hòa, đều đã được huấn luyện, tất cả đều được hoàn toàn diệt tắt. Trong số tất cả các vị đã có trạng thái mát mẻ, phải chăng có vị tốt hơn, có vị kém thua?”
2005. “Các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô bộc, các người hạ tiện, các người hốt rác, tất cả đều hiền hòa, đều đã được huấn luyện, tất cả đều được hoàn toàn diệt tắt. Trong số tất cả các vị đã có trạng thái mát mẻ, không có vị tốt hơn hay vị kém thua.”
2006. “Các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô bộc, các người hạ tiện, các người hốt rác, tất cả đều hiền hòa, đều đã được huấn luyện, tất cả đều được hoàn toàn diệt tắt.
2007. Trong số tất cả các vị đã có trạng thái mát mẻ, không có vị tốt hơn hay vị kém thua, vậy Bà-la-môn hạnh, tính chất dòng dõi gia tộc Sotthiya, mà ngài thực hành đều bị mất đi.”
2008. “Đền đài, cung điện trở nên bị che khuất bởi những tấm vải nhuộm nhiều màu. Bóng che không phải là của những tấm vải ấy, mà màu sắc ấy làm nhòa đi.
2009. Tương tự như vậy ở loài người, khi những người trẻ tuổi được trong sạch sau khi hiểu thông Giáo Pháp và trở thành những vị có sự hành trì tốt đẹp, người ta không hỏi về xuất thân của các vị ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kharājinā jaṭilā paṅkadantā, dummakkharūpā † ye mantaṃ jappanti †;
Kaccinnu te mānusake payoge, idaṃ vidū parimuttā apāyā.
Those with rough hides, matted hair, and dirty teeth, of uncomely appearance, who recite the mantras—is it that they, knowing this through human effort, are freed from the woeful states?
Những vị mặc da thú thô, bện tóc, răng cáu bẩn, dung sắc xấu xí, những vị tụng đọc chú thuật; phải chăng nhờ vào sự nỗ lực của con người mà các vị ấy biết được điều này và đã giải thoát khỏi các ác đạo?
63.
63.
63.
Pāpāni kammāni karetha † rāja, bahussuto ce na careyya dhammaṃ;
Sahassavedopi na taṃ paṭicca, dukkhā pamucce † caraṇaṃ apatvā.
O King, if one who is very learned were to commit evil deeds and not practice the Dhamma, even with a thousand Vedas, one would not be freed from suffering by relying on them, not having attained right conduct.
Tâu Đại vương, nếu một người dù đa văn mà làm các nghiệp ác, không thực hành Pháp, thì dù biết ngàn bộ Vệ-đà, cũng không thể nhờ đó mà thoát khỏi khổ, vì không đạt đến sự thực hành (giới hạnh).
64.
64.
64.
Sahassavedopi na taṃ paṭicca, dukkhā pamucce caraṇaṃ apatvā;
Maññāmi vedā aphalā bhavanti, sasaṃyamaṃ caraṇaññeva saccaṃ.
Even with a thousand Vedas, one is not freed from suffering by relying on them, not having attained right conduct. I consider the Vedas to be fruitless; only conduct together with restraint is the truth.
Dù biết ngàn bộ Vệ-đà, cũng không thể nhờ đó mà thoát khỏi khổ, vì không đạt đến sự thực hành (giới hạnh). Tôi cho rằng các kinh Vệ-đà là vô ích, chỉ có sự thực hành cùng với sự tự chế mới là chân thật.
65.
65.
65.
Na heva vedā aphalā bhavanti, sasaṃyamaṃ caraṇaññeva saccaṃ;
Kittiñhi † pappoti adhicca vede, santiṃ puṇāti † caraṇena danto.
It is not that the Vedas are fruitless; conduct with restraint is indeed the truth. For one attains fame by studying the Vedas, but the tamed one, through conduct, attains peace.
Các kinh Vệ-đà không phải là hoàn toàn vô ích, nhưng chỉ có sự thực hành cùng với sự tự chế mới là chân thật. Quả thật, người ta đạt được danh tiếng nhờ học Vệ-đà, nhưng người đã được điều phục nhờ sự thực hành (giới hạnh) thì đạt được sự an tịnh.
66.
66.
66.
Bhaccā mātā pitā bandhū, yena jāto sayeva so;
Uddālako ahaṃ bhoto †, sottiyākulavaṃsako †.
He by whom mother, father, and relatives are supported—that very one is he. O sir, I am Uddālaka, of the Sotthiya lineage.
Người đã nuôi dưỡng mẹ, cha, và bà con, chính là tôi đây. Thưa ngài, tôi là Uddālaka, thuộc dòng dõi gia tộc Sottiya.
67.
67.
67.
Kathaṃ bho brāhmaṇo hoti, kathaṃ bhavati kevalī;
Kathañca parinibbānaṃ, dhammaṭṭho kinti vuccati.
How, sir, does one become a brahmin? How does one become perfect? And how does one attain final Nibbāna? How is one said to be established in the Dhamma?
Thưa ngài, làm thế nào để trở thành một Bà-la-môn? Làm thế nào để trở thành người toàn thiện? Và làm thế nào để được tịch tịnh? Người như thế nào được gọi là người an trú trong Pháp?
68.
68.
68.
Niraṃkatvā aggimādāya brāhmaṇo, āpo siñcaṃ yajaṃ usseti yūpaṃ;
Evaṃkaro brāhmaṇo hoti khemī, dhamme ṭhitaṃ tena amāpayiṃsu.
The brahmin, having become free from desire, taking up the fire, sprinkling water, and sacrificing, raises the sacrificial post. One who acts thus becomes a brahmin, becomes secure; thereby they consider him established in the Dhamma.
Một Bà-la-môn, sau khi từ bỏ (dục lạc), lấy ngọn lửa, rưới nước, tế lễ, và dựng cột tế đàn; người làm như vậy trở thành một Bà-la-môn an ổn, và nhờ đó, họ được xem là người an trú trong Pháp.
69.
69.
69.
Na suddhi secanenatthi, nāpi kevalī brāhmaṇo;
Na khantī nāpi soraccaṃ, nāpi so parinibbuto.
There is no purity by sprinkling, nor by this does a brahmin become perfect. There is neither patience nor gentleness, nor is one thereby fully extinguished.
Không có sự thanh tịnh nhờ việc rưới nước, (người ấy) cũng không phải là Bà-la-môn toàn thiện. Không có sự nhẫn nại, cũng không có sự hiền hòa, người ấy cũng không được tịch tịnh.
70.
70.
70.
Kathaṃ so † brāhmaṇo hoti, kathaṃ bhavati kevalī;
Kathañca parinibbānaṃ, dhammaṭṭho kinti vuccati.
How does one become a brahmin? How does one become perfect? And how is there final Nibbāna? What sort of person is said to be established in the Dhamma?
Vậy làm thế nào người ấy trở thành một Bà-la-môn? Làm thế nào để trở thành người toàn thiện? Và làm thế nào để được tịch tịnh? Người như thế nào được gọi là người an trú trong Pháp?
71.
71.
71.
Akhettabandhū amamo nirāso, nillobhapāpo bhavalobhakhīṇo;
Evaṃkaro brāhmaṇo hoti khemī, dhamme ṭhitaṃ tena amāpayiṃsu.
Without attachment to fields or kin, without possessiveness, without longing, without greed and evil, with craving for existence destroyed—one who acts thus becomes a brahmin, becomes secure; thereby they consider him established in the Dhamma.
Không có ruộng đất, không có bà con, không có 'cái của tôi', không có ái dục, không có tham lam và tội lỗi, đã đoạn tận lòng tham ái trong các cõi hữu; người làm như vậy trở thành một Bà-la-môn an ổn, và nhờ đó, họ được xem là người an trú trong Pháp.
72.
72.
72.
Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Sabbeva soratā dantā, sabbeva parinibbutā;
Sabbesaṃ sītibhūtānaṃ, atthi seyyotha † pāpiyo.
Warriors, brahmins, merchants, workers, outcastes, and scavengers—all are gentle and tamed, all are fully extinguished. Among all those who have become cool, is there a superior or an inferior?
Giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa; nếu tất cả đều hiền hòa, đã được điều phục, tất cả đều được tịch tịnh; thì giữa tất cả những người đã trở nên thanh lương ấy, có ai cao quý hơn hay thấp kém hơn không?
73.
73.
73.
Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Sabbeva soratā dantā, sabbeva parinibbutā;
Sabbesaṃ sītibhūtānaṃ, natthi seyyotha pāpiyo.
Warriors, brahmins, merchants, workers, outcastes, and scavengers—all are gentle and tamed, all are fully extinguished. Among all those who have become cool, there is no superior or inferior.
Giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa; nếu tất cả đều hiền hòa, đã được điều phục, tất cả đều được tịch tịnh; thì giữa tất cả những người đã trở nên thanh lương ấy, không có ai cao quý hơn hay thấp kém hơn.
74.
74.
74.
Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Sabbeva soratā dantā, sabbeva parinibbutā.
Warriors, brahmins, merchants, workers, outcastes, and scavengers—all are gentle and tamed, all are fully extinguished.
Giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa; tất cả đều hiền hòa, đã được điều phục, tất cả đều được tịch tịnh.
75.
75.
75.
Sabbesaṃ sītibhūtānaṃ, natthi seyyotha pāpiyo;
Panatthaṃ † carasi brahmaññaṃ, sottiyākulavaṃsataṃ.
Among all those who have become cool, there is no superior or inferior. Yet by this praiseworthy practice of yours, you destroy brahminhood and the lineage of the Sotthiyas.
Giữa tất cả những người đã trở nên thanh lương, không có ai cao quý hơn hay thấp kém hơn. (Vậy mà) ngài lại thực hành một cách vô ích phẩm chất Bà-la-môn và (phẩm chất của) dòng dõi gia tộc Sottiya.
76.
76.
76.
Nānārattehi vatthehi, vimānaṃ bhavati chāditaṃ;
Na tesaṃ chāyā vatthānaṃ, so rāgo anupajjatha.
A mansion may be covered with cloths of various colors, yet the shadow of those cloths is not varied; that variety of color does not appear therein.
Một tòa nhà được che phủ bằng những tấm vải nhuộm nhiều màu khác nhau. Nhưng cái bóng của những tấm vải ấy không có nhiều màu; màu sắc ấy không hiện ra (trong bóng).
77.
77.
77.
Evameva † manussesu, yadā sujjhanti māṇavā;
Te sajātiṃ pamuñcanti †, dhammamaññāya subbatāti.
Even so among humans, when people become pure, being of good conduct and having understood the Dhamma, they abandon their birth.
Cũng như vậy giữa loài người, khi con người được thanh tịnh, nhờ biết Pháp và có hạnh kiểm tốt, khi ấy họ từ bỏ (sự phân biệt) giai cấp của mình.
Uddālakajātakaṃ catutthaṃ.
The Uddālaka Jātaka, the Fourth.
Chuyện Uddālaka, là chuyện thứ tư.