Bản dịch
JA 485 — Chuyện đôi ca thần Canda (Tiền thân Canda Kinnara)
2. Candakinnarījātaka
1950. “Hỡi nàng Candā, ta nghĩ rằng mạng sống này bị dẫn đi. Ta bị xây xẩm bởi sự sôi sục của máu. Hỡi nàng Candā, ta đang lìa bỏ sự sống, các hơi thở của ta bị ngưng lại.
1951. Mạng sống của ta chìm xuống, ta có sự đau đớn. Trái tim ta bị đốt nóng, ta mệt nhọc vô cùng. Nỗi khổ ấy của ta bởi vì nàng đang sầu muộn, không phải do các nỗi sầu muộn khác.
1952. Ta bị héo tàn, tựa như cọng cỏ (bị phơi ở tảng đá bị đốt nóng), tựa như khu rừng (bị chặt cây tận gốc). Ta bị khô cạn, tựa như dòng sông không không còn đầy nước. Nỗi khổ ấy của ta bởi vì nàng đang sầu muộn, không phải do các nỗi sầu muộn khác.
1953. Những giọt nước mắt này của ta tuôn chảy tựa như nước mưa rơi xuống chảy thành dòng ở chân núi. Nỗi khổ ấy của ta bởi vì nàng đang sầu muộn, không phải do các nỗi sầu muộn khác.”
1954. “Thưa hoàng tử, ngài quả là độc ác! Ngài đã bắn trúng người chồng yêu dấu của thiếp, người phụ nữ khốn khổ. Chồng thiếp đây đã bị trúng tên, nằm dài trên mặt đất, dưới gốc cây trong rừng.
1955. Thưa hoàng tử, nỗi sầu muộn ở trái tim của thiếp trong khi thiếp nhìn thấy người chồng nhân điểu, hãy để cho người mẹ của ngài nhận lấy nỗi sầu muộn ở trái tim này của thiếp.
1956. Thưa hoàng tử, nỗi sầu muộn ở trái tim của thiếp trong khi thiếp nhìn thấy người chồng nhân điểu, hãy để cho người vợ của ngài nhận lấy nỗi sầu muộn ở trái tim này của thiếp.
1957. Thưa hoàng tử, chớ để cho người mẹ của ngài nhìn thấy những người con và người chồng của bà là kẻ đã giết hại loài nhân điểu vô tội bởi vì lòng ham muốn có được thiếp.
1958. Thưa hoàng tử, chớ để cho người vợ của ngài nhìn thấy những người con và người chồng của bà là kẻ đã giết hại loài nhân điểu vô tội bởi vì lòng ham muốn có được thiếp.”
1959. “Này nàng Candā, nàng chớ khóc lóc. Hỡi nàng có con mắt như bông hoa vanatimira , nàng chớ sầu muộn. Nàng sẽ trở thành người vợ của ta, nàng sẽ là người phụ nữ được tôn vinh ở hoàng cung.”
1960. “Thưa hoàng tử, chắc chắn rằng thiếp sẽ chết, chứ thiếp sẽ không bao giờ thuộc về ngài, là kẻ đã giết hại loài nhân điểu vô tội bởi vì lòng ham muốn có được thiếp.”
1961. “Này cô nàng nhút nhát, này cô nàng ước muốn được sống, này nàng nhân điểu, nàng hãy đi về núi Hi-mã-lạp. Này cô nàng có thức ăn là các lá cây tālissa và tagara , các con thú ở trong rừng sẽ vui đùa với nàng.”
1962. “Những ngọn núi ấy, các động núi ấy, và các hang núi ấy, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1963. Những tấm thảm lá đáng yêu ấy, nơi được lai vãng bởi các loài thú dữ, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1964. Những tấm thảm hoa đáng yêu ấy, nơi được lai vãng bởi các loài thú dữ, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1965. Những dòng sông quý báu từ ngọn núi chảy tràn có nước trong vắt, những con suối được rải rắc với những bông hoa, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1966. Những đỉnh núi ngọc lục của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1967. Những đỉnh núi vàng ròng của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1968. Những đỉnh núi đồng đỏ của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1969. Những đỉnh núi cao vút của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1970. Những đỉnh núi bạc trắng ngần của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1971. Những đỉnh núi đủ màu sắc của dãy Hi-mã-lạp sơn đáng ngắm nhìn, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1972. Ở ngọn núi Gandhamādana được bao phủ bởi các loại thảo dược, được thân cận bởi tập thể Dạ-xoa, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?
1973. Ở ngọn núi Gandhamādana được bao phủ bởi các loại thảo dược, được thân cận bởi tập thể nhân điểu, trong khi không nhìn thấy chàng ở nơi ấy, hỡi chàng nhân điểu, thiếp sẽ phải làm thế nào?”
1974. Thưa đấng Phạm Thiên cao cả, thiếp xin đảnh lễ hai bàn chân của ngài, vị đã rưới nước bất tử lên người chồng yêu dấu của thiếp, người phụ nữ khốn khổ, để thiếp được đoàn tụ với người yêu dấu nhất.
1975. Giờ đây, hai ta hãy du ngoạn những dòng sông quý báu ở ngọn núi, những con suối được rải rắc với những bông hoa, những nơi trú ngụ của nhiều loại cây khác biệt, với những lời nói yêu thương trao đổi giữa hai người.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Upanīyatidaṃ maññe, cande † lohitamaddane;
Ajja jahāmi jīvitaṃ, pāṇā † me cande nirujjhanti.
O Canda, it seems this life of mine, smeared with blood, is brought near its end. Today I must abandon my life; O Canda, my life-breaths are ceasing.
Hỡi Candā, khi bị vấy máu, ta nghĩ rằng mạng sống này đang bị dẫn đến (cái chết); hôm nay ta từ bỏ mạng sống, hỡi Candā, hơi thở của ta đang tàn lụi.
19.
19.
19.
Osīdi † me dukkhaṃ † hadayaṃ, me ḍayhate nitammāmi;
Tava candiyā socantiyā, na naṃ aññehi sokehi.
My life sinks, I am in sorrow, my heart burns, I am utterly weary. This suffering is because of the grief for you, O Candī, who will be sorrowing; it is not from any other sorrows.
Tim ta chìm xuống, đau đớn, ta bị thiêu đốt, ta kiệt sức; (nỗi khổ) ấy là vì nàng Candiyā đang sầu muộn, chứ không phải vì những sầu muộn nào khác.
20.
20.
20.
Tiṇamiva vanamiva milāyāmi †, nadī aparipuṇṇāva † sussāmi;
Tava candiyā socantiyā, na naṃ aññehi sokehi.
Like grass, like a forest, I shall wither; like a river not full, I shall dry up. This suffering is because of the grief for you, O Candī, who will be sorrowing; it is not from any other sorrows.
Ta héo úa như cỏ, như cây rừng; ta khô cạn như dòng sông không đầy nước. (Nỗi khổ) ấy là vì nàng Candiyā đang sầu muộn, chứ không phải vì những sầu muộn nào khác.
21.
21.
21.
Vassamiva sare pāde †, imāni assūni vattare mayhaṃ;
Tava candiyā socantiyā, na naṃ aññehi sokehi.
Like rain in a lake at the foot of a mountain, so do these tears of mine flow. This suffering is because of the grief for you, O Candī, who will be sorrowing; it is not from any other sorrows.
Như mưa trút xuống hồ dưới chân núi, những giọt nước mắt này của ta tuôn rơi. (Nỗi khổ) ấy là vì nàng Candiyā đang sầu muộn, chứ không phải vì những sầu muộn nào khác.
22.
22.
22.
Pāpo khosi † rājaputta, yo me icchitaṃ † patiṃ varākiyā;
Vijjhasi vanamūlasmiṃ, soyaṃ viddho chamā seti.
You are indeed wicked, O prince, you who shot my desired husband at the foot of the forest, so that I might be a wretched woman. He, having been shot, now lies upon the ground.
Này vương tử, ngài thật là kẻ ác độc, ngài đã bắn người chồng mà tôi yêu quý ở dưới chân núi trong rừng, để tôi phải khốn khổ; chàng ấy, bị trúng tên, đang nằm trên mặt đất.
23.
23.
23.
Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu rājaputta tava mātā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, kimpurisaṃ avekkhamānāya.
O prince, this heart-sorrow of mine, which arises as I gaze upon my kimpurisa husband—may your mother take this heart-sorrow upon herself.
Này vương tử, nỗi sầu trong tim của tôi khi nhìn thấy chàng kimpurisa, mong rằng mẹ của ngài cũng phải gánh chịu nỗi sầu trong tim này của tôi.
24.
24.
24.
Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu rājaputta tava jāyā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, kimpurisaṃ avekkhamānāya.
O prince, this heart-sorrow of mine, which arises as I gaze upon my kimpurisa husband—may your wife take this heart-sorrow upon herself.
Này vương tử, nỗi sầu trong tim của tôi khi nhìn thấy chàng kimpurisa, mong rằng vợ của ngài cũng phải gánh chịu nỗi sầu trong tim này của tôi.
25.
25.
25.
Mā ca puttaṃ † mā ca patiṃ, addakkhi rājaputta tava mātā;
Yo kimpurisaṃ avadhi, adūsakaṃ mayha kāmā hi †.
O prince, you who killed the faultless kimpurisa out of desire for me, may your mother never see her son nor her husband again.
Này vương tử, ngài đã giết chàng kimpurisa vô tội vì lòng ham muốn đối với tôi, mong rằng mẹ của ngài đừng bao giờ nhìn thấy con trai cũng đừng bao giờ nhìn thấy chồng nữa.
26.
26.
26.
Mā ca puttaṃ mā ca patiṃ, addakkhi rājaputta tava jāyā;
Yo kimpurisaṃ avadhi, adūsakaṃ mayha kāmā hi.
O prince, you who killed the faultless kimpurisa out of desire for me, may your wife never see her son nor her husband again.
Này vương tử, ngài đã giết chàng kimpurisa vô tội vì lòng ham muốn đối với tôi, mong rằng vợ của ngài đừng bao giờ nhìn thấy con trai cũng đừng bao giờ nhìn thấy chồng nữa.
27.
27.
27.
Mā tvaṃ cande rodi, mā soci vanatimiramattakkhi;
Mama tvaṃ hehisi bhariyā, rājakule pūjitā nārībhi †.
Do not weep, O Canda, do not grieve, O you with eyes like the dark timira flower of the forest. You shall be my wife, honored by the women in the royal family.
Này nàng Candā, hỡi nàng có đôi mắt như hoa timira trong rừng, nàng đừng khóc, đừng sầu muộn. Nàng sẽ là vợ của ta, được các cung nữ trong hoàng tộc tôn kính.
28.
28.
28.
Api nūnahaṃ marissaṃ, nāhaṃ † rājaputta tava hessaṃ;
Yo kimpurisaṃ avadhi, adūsakaṃ mayha kāmā hi.
Indeed, I shall surely die; I shall not be your wife, O prince, you who killed the faultless kimpurisa out of desire for me.
Chắc chắn tôi sẽ chết, này vương tử, tôi sẽ không là vợ của ngài, người đã giết chàng kimpurisa vô tội vì lòng ham muốn đối với tôi.
29.
29.
29.
Api bhīruke api jīvitukāmike, kimpurisi gaccha himavantaṃ;
Tālīsatagarabhojanā, aññe † taṃ migā ramissanti.
O timid one, O you who desire to live, O kimpurisī, go to the Himālaya! You who feed on the leaves of the Tālīsa and Tagara, other wild beasts will delight you.
Hỡi nàng kimpurisī nhút nhát, hỡi nàng ham sống, hãy đi đến Hy-mã-lạp sơn. Nàng sẽ có lá tālīsa và tagara làm thức ăn, các loài thú khác sẽ làm nàng vui thích.
30.
30.
30.
Te pabbatā tā ca kandarā, † tā ca giriguhāyo tatheva tiṭṭhanti †;
Tattheva † taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Those mountains and those ravines, and those mountain caves, they stand just as they were. Not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Những ngọn núi ấy, những khe núi ấy, và những hang động ấy vẫn còn y nguyên; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
31.
31.
31.
Te paṇṇasanthatā ramaṇīyā, vāḷamigehi anuciṇṇā;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ †.
Those delightful beds of leaves, frequented by beasts of prey—not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Những thảm lá khả ái ấy, thường được các loài dã thú lui tới; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
32.
32.
32.
Te pupphasanthatā ramaṇīyā, vāḷamigehi anuciṇṇā;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Those delightful beds of flowers, frequented by beasts of prey—not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Những thảm hoa khả ái ấy, thường được các loài dã thú lui tới; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
33.
33.
33.
Acchā savanti girivana † nadiyo, kusumābhikiṇṇasotāyo;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
The mountain and forest rivers flow clear, their streams strewn with flowers. Not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Những dòng sông trong núi rừng chảy với nước trong veo, những dòng nước đầy hoa; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
34.
34.
34.
Nīlāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni †;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
The beautiful, blue peaks of the Himālaya mountain—not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi màu xanh biếc, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
35.
35.
35.
Pītāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Golden are the beautiful peaks of the Himavanta mountain; not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi màu vàng, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
36.
36.
36.
Tambāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Copper-colored are the beautiful peaks of the Himavanta mountain; not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi màu đồng, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
37.
37.
37.
Tuṅgāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Lofty are the beautiful peaks of the Himavanta mountain; not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi cao vút, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
38.
38.
38.
Setāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
White are the beautiful peaks of the Himavanta mountain; not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi màu trắng, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
39.
39.
39.
Citrāni himavato pabbatassa, kūṭāni dassanīyāni;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
Variegated are the beautiful peaks of the Himavanta mountain; not seeing you there among them, O kimpurisa, what shall I do?
Những đỉnh núi sặc sỡ, đáng chiêm ngưỡng của Hy-mã-lạp sơn; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
40.
40.
40.
Yakkhagaṇasevite gandhamādane, osadhebhi sañchanne;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
On Mount Gandhamādana, frequented by hosts of yakkhas and covered with medicinal herbs—not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Trên núi Gandhamādana, nơi các chúng dạ-xoa thường lui tới, được bao phủ bởi các dược thảo; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
41.
41.
41.
Kimpurisasevite gandhamādane, osadhebhi sañchanne;
Tattheva taṃ apassantī, kimpurisa kathaṃ ahaṃ kassaṃ.
On Mount Gandhamādana, frequented by kimpurisas and covered with medicinal herbs—not seeing you there, O kimpurisa, what shall I do?
Trên núi Gandhamādana, nơi các kimpurisa thường lui tới, được bao phủ bởi các dược thảo; hỡi chàng kimpurisa, ở chính nơi đó mà không thấy chàng, tôi sẽ phải làm sao?
42.
42.
42.
Vande te ayirabrahme †, yo me icchitaṃ patiṃ varākiyā;
Amatena abhisiñci, samāgatāsmi piyatamena.
I pay homage to you, O noble brahmin. You who sprinkled my desired husband with the deathless nectar; I, a wretched woman, am reunited with my most beloved.
Con xin đảnh lễ ngài, bậc Phạm thiên tôn quý, người đã dùng nước cam lồ rưới lên người chồng mà con yêu quý khi con đang khốn khổ; con đã được đoàn tụ với người yêu dấu nhất.
43.
43.
43.
Vicarāma dāni girivana † nadiyo, kusumābhikiṇṇasotāyo;
Nānādumavasanāyo †, piyaṃvadā aññamaññassāti.
Now let us wander among the mountain and forest rivers, whose streams are strewn with flowers and which are clothed in various trees, speaking pleasant words to one another.
Bây giờ chúng ta hãy đi dạo đến những dòng sông trong núi rừng, những dòng nước đầy hoa, được che phủ bởi nhiều loại cây khác nhau, và nói những lời yêu thương với nhau.
Candakinnarījātakaṃ † dutiyaṃ.
The Candakinnarī Jātaka, the Second.
Bổn sanh Candakinnarī, câu chuyện thứ hai.