Bản dịch
JA 484 — Chuyện cánh đồng lúa (Tiền thân Sàlikedàra)
1. Sālikedārajātaka
1933. “Thưa ông Kosiya, các con chim két ăn ruộng lúa đã được chín tới. Thưa vị Bà-la-môn, tôi báo cho ngài biết. Tôi không có thể ngăn cản chúng.
1934. Và ở nơi đó có một con chim. Nó có vẻ đẹp toàn diện trong số những con chim ấy. Sau khi ăn lúa sāli theo như ý thích, nó còn dùng mỏ gắp lấy lúa rồi ra đi.”
1935. “Hãy giăng các bẫy lông đuôi ngựa để cho con chim ấy có thể bị vướng vào. Và ngươi hãy bắt sống nó, rồi mang đến chỗ của ta.”
1936. “Các con chim này sau khi ăn uống rồi bay đi. Một mình ta bị cột vào bẫy. Tội ác nào đã được tạo ra bởi ta?”
1937. “Này chim két, ta nghĩ rằng những con chim khác có bao tử bình thường, còn ngươi có bao tử vượt trội. Sau khi ăn lúa sāli theo như ý thích, ngươi còn dùng mỏ gắp lấy lúa rồi ra đi.
1938. Có phải ngươi làm cho đầy kho thóc ở nơi kia? Này chim két, phải chăng ngươi có thù hận với ta? Này chim, được ta hỏi, ngươi hãy trả lời, ngươi cất giấu lúa sāli ở đâu?”
1939. “Tôi không có thù hận với ông, kho thóc của tôi không có. Tôi trả nợ và tôi cho vay nợ. Tôi đi đến chóp đỉnh của rừng cây bông vải, tôi cũng có cất giữ của chôn giấu tại nơi ấy. Này ông Kosiya, ông hãy biết như vậy.”
1940. “Việc cho vay nợ của ngươi là như thế nào? Và việc trả nợ là như thế nào? Ngươi hãy giải thích việc cất giữ của chôn giấu, rồi ngươi sẽ được thoát khỏi cái bẫy.”
1941. “Này ông Kosiya, những chim con của tôi còn nhỏ, cánh còn chưa mọc. Được tôi nuôi dưỡng, chúng sẽ phụng dưỡng tôi; bằng cách đó, tôi cho chúng vay nợ.
1942. Mẹ và cha của tôi đã lớn tuổi, đã già nua, đã qua thời tuổi trẻ. Sau khi mang lại lúa cho họ bằng cái mỏ, tôi có thể trả nợ đã vay trước đây.
1943. Ở nơi ấy, còn có những con chim khác có cặp cánh bị liệt, vô cùng yếu ớt. Là người mong mỏi phước báu, tôi cho lúa đến chúng; các bậc sáng suốt đã gọi việc ấy là của chôn giấu.
1944. Việc cho vay nợ của tôi là như thế ấy. Việc trả nợ của tôi là như thế ấy. Việc cất giữ của chôn giấu đã được giải thích. Này ông Kosiya, ông hãy biết như vậy.”
1945. “Con chim này quả thật là hiền thiện, là loài lưỡng sanh có đạo đức tuyệt vời! Đạo đức này ở một số người không tìm thấy.
1946. Ngươi hãy ăn lúa sāli theo như ý thích cùng với tất cả thân quyến. Này chim két, chúng ta hãy gặp lại nhau. Sự xuất hiện của ngươi được ta yêu thích.”
1947. “Này ông Kosiya, chúng tôi đã được ăn và đã được uống ở chỗ trú ngụ của ông, và chúng tôi có sự vui thích ở bên ông. Ông hãy ban phát vật thí nơi những người đã buông bỏ gậy gộc, và ông hãy phụng dưỡng mẹ cha già yếu.”
1948. “Quả thật, Nữ thần May Mắn đã đến với ta ngày hôm nay! Ta đây đã gặp được con chim cao quý của loài chim. Sau khi lắng nghe những lời khéo nói của chim két, ta sẽ làm các việc phước thiện không phải là ít.”
1949. “Ông Kosiya ấy có ý hài lòng, phấn chấn, đã cho chuẩn bị cơm ăn và nước uống, rồi với tâm tịnh tính, đã làm thỏa mãn các vị Sa- môn và Bà-la- môn với cơm ăn và nước uống.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sampannaṃ sālikedāraṃ, suvā bhuñjanti kosiya;
Paṭivedemi te brahme, na ne † vāretumussahe.
The rice field is abundant, O Kosiya, and the parrots feast upon it. I report this to you, O brahmin; I am not able to prevent them.
Hỡi Kosiya, ruộng lúa sāli sung túc, bầy vẹt đang ăn; thưa ngài Bà-la-môn, tôi xin báo cho ngài biết, tôi không thể ngăn cản chúng.
2.
2.
2.
Eko ca tattha sakuṇo, yo nesaṃ † sabbasundaro;
Bhutvā sāliṃ yathākāmaṃ, tuṇḍenādāya gacchati.
And there is one bird among them, the most beautiful of all. Having eaten the rice according to its wish, it takes some with its beak and departs.
Và có một con chim ở đó, là con đẹp nhất trong bầy; sau khi ăn lúa sāli thỏa thích, nó ngậm (lúa) bằng mỏ rồi bay đi.
3.
3.
3.
Oḍḍentu † vāḷapāsāni, yathā vajjhetha so dijo;
Jīvañca naṃ gahetvāna, ānayehi † mamantike.
Let horsehair snares be set so that this bird may be caught. Having seized it alive, bring it into my presence.
Hãy giăng bẫy bằng lông đuôi ngựa, để con chim ấy bị mắc bẫy; và hãy bắt sống nó, rồi mang đến cho ta.
4.
4.
4.
Ete bhutvā pivitvā ca †, pakkamanti vihaṅgamā;
Eko baddhosmi pāsena, kiṃ pāpaṃ pakataṃ mayā.
These birds, having eaten and drunk, depart. I alone am bound by a snare. What evil deed have I done?
Những con chim này sau khi ăn và uống đã bay đi; chỉ một mình ta bị mắc bẫy, ta đã làm điều ác gì?
5.
5.
5.
Udaraṃ nūna aññesaṃ, suva accodaraṃ tava;
Bhutvā sāliṃ yathākāmaṃ, tuṇḍenādāya gacchasi.
Surely the bellies of other parrots are of a proper measure, O parrot, while yours is excessive. Having eaten rice according to your wish, you take some with your beak and depart.
Này vẹt, bụng của những con khác chắc là có chừng mực, còn bụng của ngươi thì quá độ; sau khi ăn lúa sāli thỏa thích, ngươi còn ngậm bằng mỏ mang đi.
6.
6.
6.
Koṭṭhaṃ nu tattha pūresi, suva veraṃ nu te mayā;
Puṭṭho me samma akkhāhi, kuhiṃ sāliṃ nidāhasi †.
Do you fill a granary there, O parrot, or do you have enmity with me? Friend, having been asked by me, tell me: where do you store the rice?
Này vẹt, phải chăng ngươi làm đầy kho lẫm ở đó, phải chăng ngươi có oán thù với ta? Này bạn, được hỏi, hãy nói cho ta biết, ngươi cất giấu lúa sāli ở đâu?
7.
7.
7.
Na me veraṃ tayā saddhiṃ, koṭṭho mayhaṃ na vijjati;
Iṇaṃ muñcāmiṇaṃ dammi, sampatto koṭasimbaliṃ;
Nidhimpi tattha nidahāmi, evaṃ jānāhi kosiya.
I have no enmity with you, nor do I have a granary. I discharge an old debt and I grant a new loan. Having reached the silk-cotton forest, I also bury a treasure there. Know this, O Kosiya.
Tôi không có oán thù với ngài, tôi cũng không có kho lẫm. Tôi trả một món nợ, tôi cho vay một món nợ, và khi đến cây gòn, tôi cũng chôn một kho tàng ở đó. Hỡi Kosiya, xin hãy biết như vậy.
8.
8.
8.
Kīdisaṃ te iṇadānaṃ, iṇamokkho ca kīdiso;
Nidhinidhānamakkhāhi, atha pāsā pamokkhasi.
Of what kind is your granting of a loan, and of what kind is your discharge from debt? Explain the burying of the treasure, and then you will be released from the snare.
Việc cho vay nợ của ngươi là thế nào, và việc trả nợ là thế nào? Hãy nói về việc chôn kho tàng, rồi ngươi sẽ được thoát khỏi bẫy.
9.
9.
9.
Ajātapakkhā taruṇā, puttakā mayha kosiya;
Te maṃ bhatā bharissanti, tasmā tesaṃ iṇaṃ dade.
I have young sons, O Kosiya, who are unfledged and tender. They, having been nourished by me, will support me in turn. Therefore, to them I grant a loan.
Hỡi Kosiya, các con của tôi còn non nớt, lông cánh chưa mọc; được tôi nuôi dưỡng, chúng sẽ nuôi lại tôi, vì thế, tôi cho chúng vay nợ.
10.
10.
10.
Mātā pitā ca me vuddhā, jiṇṇakā gatayobbanā;
Tesaṃ tuṇḍena hātūna, muñce pubbakataṃ † iṇaṃ.
My mother and father are old, aged, and past their youth. For them, having brought food with my beak, I discharge the debt incurred in the past.
Cha và mẹ của tôi đã già, yếu đuối, đã qua tuổi thanh xuân; tôi dùng mỏ mang (thức ăn) đến cho họ, (như vậy) tôi trả món nợ đã có từ trước.
11.
11.
11.
Aññepi tattha sakuṇā, khīṇapakkhā sudubbalā;
Tesaṃ puññatthiko dammi, taṃ nidhiṃ āhu paṇḍitā.
There are also other birds there, with worn-out wings and very weak. To them, desiring merit, I give. That, the wise call a treasure.
Ở đó cũng có những con chim khác, lông cánh đã rụng, rất yếu ớt; tôi cho chúng vì mong muốn phước báu, bậc hiền trí gọi đó là kho tàng.
12.
12.
12.
Īdisaṃ † me iṇadānaṃ, iṇamokkho ca īdiso;
Nidhinidhānamakkhāmi †, evaṃ jānāhi kosiya.
Such is my granting of a loan, and such is my discharge from debt. I have explained the burying of a treasure. Know this, O Kosiya.
Việc cho vay nợ của tôi là như vậy, việc trả nợ cũng là như vậy; tôi đã giải thích về việc chôn kho tàng. Hỡi Kosiya, xin hãy biết như vậy.
13.
13.
13.
Bhaddako vatayaṃ pakkhī, dijo paramadhammiko;
Ekaccesu manussesu, ayaṃ dhammo na vijjati.
Indeed, this bird is excellent, a twice-born one of supreme righteousness. This quality is not found even among some humans.
Ôi, con chim này thật hiền thiện! Con chim này thật sống theo pháp tối thượng! Pháp này không có ngay cả ở một số người.
14.
14.
14.
Bhuñja sāliṃ yathākāmaṃ, saha sabbehi ñātibhi;
Punāpi suva passemu, piyaṃ me tava dassanaṃ.
Eat the rice according to your wish, together with all your relatives. May we see you again, O parrot; the sight of you is dear to me.
Hãy ăn lúa sāli thỏa thích, cùng với tất cả bà con của ngươi. Này vẹt, mong chúng ta lại được gặp nhau, việc được thấy ngươi là điều ta yêu mến.
15.
15.
15.
Bhuttañca pītañca tavassamamhi †, rattiñca † no kosiya te sakāse;
Nikkhittadaṇḍesu dadāhi dānaṃ, jiṇṇe ca mātāpitaro bharassu.
We have eaten and drunk in your domain, O Kosiya, and are now in your presence. Give alms to those who have laid down the rod, and support your aged parents.
Chúng tôi đã ăn và uống tại nơi ở của ngài, hỡi Kosiya, chúng tôi đã ở lại trong sự hiện diện của ngài. Hãy bố thí cho những vị đã từ bỏ bạo lực, và hãy nuôi dưỡng cha mẹ già yếu.
16.
16.
16.
Lakkhī vata me udapādi ajja, yo addasāsiṃ pavaraṃ † dijānaṃ;
Suvassa sutvāna subhāsitāni, kāhāmi puññāni anappakāni.
Indeed, good fortune has arisen for me today, for I have seen the most excellent of birds. Having heard the well-spoken words of the parrot, I shall perform abundant meritorious deeds.
Ôi, hôm nay may mắn đã đến với ta, vì ta đã được thấy con chim cao quý nhất trong loài chim! Sau khi nghe những lời khéo nói của con vẹt, ta sẽ làm nhiều công đức.
17.
17.
17.
So kosiyo attamano udaggo, annañca pānañcabhisaṅkharitvā †;
Annena pānena pasannacitto, santappayi samaṇabrāhmaṇe cāti.
Then Kosiya, delighted and elated, having prepared food and drink, with a mind of faith, satisfied ascetics and brahmins with food and drink.
Vị Kosiya ấy, với tâm hoan hỷ, phấn khởi, đã chuẩn bị đồ ăn và thức uống; với tâm trong sạch, bằng đồ ăn và thức uống, đã làm cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn được mãn nguyện.
Sālikedārajātakaṃ † paṭhamaṃ.
The Sālikedāra Jātaka, the First.
Truyện Bổn sanh Sālikedāra, thứ nhất.