Bản dịch
JA 483 — Chuyện Chúa Nai Sarabha (Tiền thân Sarabha-Miga)
10. Sarabhamigajātaka
1915. “Con người cần phải hy vọng, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy được bản thân; ta đã ước muốn như thế nào thì đã thành tựu như thế ấy.
1916. Con người cần phải hy vọng, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy bản thân đã được đưa lên mặt đất từ hố nước sâu.
1917. Con người cần phải tinh tấn, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy được bản thân; ta đã ước muốn như thế nào thì đã thành tựu như thế ấy.
1918. Con người cần phải tinh tấn, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy bản thân đã được đưa lên mặt đất từ hố nước sâu.
1919. Con người có trí tuệ dầu bị rơi vào khổ đau cũng không nên cắt đứt niềm hy vọng về việc thành tựu hạnh phúc; bởi vì có nhiều ý tưởng không có lợi ích và có lợi ích. Những việc làm không suy nghĩ dẫn đến cái chết.
1920. Việc không nghĩ đến lại xảy ra, việc được nghĩ đến lại tiêu hoại. Bởi vì không phải do ý tưởng mà người nữ hay người nam có được của cải.”
1921. “Trước đó, bệ hạ đã đuổi theo con nai sarabha ở lối đi hiểm trở của ngọn núi. Bệ hạ sống sót nhờ vào sự dũng cảm của con nai có tâm không lui sụt.
1922. Sau khi thực hiện sự bám chặt vào tảng đá, con nai đã đưa bệ hạ ra khỏi địa ngục, nơi có sự di chuyển khó khăn. Nó đã giúp cho kẻ đã bị rơi vào khổ đau thoát khỏi cửa miệng của Thần Chết. Bệ hạ nói về con nai có tâm không lui sụt ấy.”
1923. “Vậy có phải lúc đó khanh đã có mặt ngay tại chỗ ấy? Hay là có ai đó đã tường thuật lại việc ấy cho khanh? Khanh đã bóc trần sự che giấu, phải chăng khanh là người có sự nhìn thấy tất cả? Này Bà-la- môn, trí tuệ của khanh quả thật khủng khiếp!”
1924. “Lúc đó, thần quả đã không có mặt ngay tại chỗ ấy. Và cũng không có bất cứ ai đã tường thuật lại việc ấy cho thần. Tâu vị chúa của loài người, đối với những đoạn kệ ngôn đã được khéo thuyết, khi ấy, các bậc sáng trí lần tìm ra ý nghĩa.”
1925. “Sau khi cầm lấy mũi tên có cọng lông đuôi, vật ra sức giết chết kẻ khác, đặt vào cây cung, bệ hạ còn ngần ngại điều gì? Tâu bậc có trí tuệ cao quý, xin bệ hạ hãy để cho mũi tên được bắn ra mau chóng giết chết con nai sarabha, bởi vì nó là thức ăn của đức vua.”
1926. “Đương nhiên, trẫm cũng nhận biết điều ấy, này Bà-la- môn, con nai là thức ăn của vị Sát-đế-lỵ. Và trong lúc trân trọng việc ân nghĩa trước đây, vì thế, trẫm không giết chết con nai sarabha.”
1927. “Tâu đại vương, đó không phải là con nai. Tâu vị chúa tể một phương, đó là loài A-tu-la. Tâu vị chúa của nhân loại, bệ hạ hãy giết chết nó và trở thành vị chúa của chư Thiên.
1928. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ thật sự còn ngần ngại để giết chết con nai sarabha , người bạn của ta, tâu bậc tinh tấn hạng nhất ở loài người , bệ hạ là người đi đến dòng sông Vetaraṇī của Thần Chết cùng với vợ con.”
1929. “Trẫm cùng tất cả dân chúng, và các con trai, các người vợ, và tập thể bạn bè, chúng ta hãy tự nguyện đi đến dòng sông Vetaraṇī ấy của Thần Chết, nhưng người nào là người ban mạng sống cho trẫm thì sẽ không bao giờ bị giết chết.
1930. Khi trẫm một mình bị lâm vào cảnh khốn khổ ở trong khu rừng ghê rợn, con nai này là người đã cứu giúp. Trong khi nhớ lại việc làm ấy trước đây là như thế, trong khi biết về đức hạnh ấy, này vị Bà-la-môn vĩ đại, làm thế nào trẫm có thể giết chết con nai?”
1931. “Là người tạo sự hạnh phúc cho bạn hữu, bệ hạ hãy sống thật thọ. Hãy giáo huấn vương quốc này các đức tính chân chánh. Trong khi được hầu cận bởi những toán nữ nhân, bệ hạ hãy vui thích ở vương quốc, tựa như Thiên Chủ Vāsava vui thích ở tại cõi Trời.
1932. Là người không có sự giận dữ, thường xuyên có tâm tịnh tín, sau khi trở thành người đáp ứng yêu cầu của mọi người khách lạ, sau khi bố thí và hưởng thụ tùy theo khả năng, là người không bị chê trách, bệ hạ sẽ đạt đến vị thế cõi Trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sarabhaṃ giriduggasmiṃ, yaṃ tvaṃ anusarī pure;
Alīnacittassa tuvaṃ, vikkantamanujīvasi †.
That Sarabha whom you formerly pursued in the mountain fastness—it is due to the valor of that unshrinking one that you live.
Con nai Sarabha mà ngài đã đuổi theo trước đây trong vùng núi hiểm trở; ngài, người có tâm không nao núng, đã sống được là nhờ vào nỗ lực dũng mãnh của nó.
141.
141.
141.
Yo taṃ viduggā narakā samuddhari, silāya yoggaṃ sarabho karitvā;
Dukkhūpanītaṃ maccumukhā pamocayi, alīnacittaṃ taṃ migaṃ † vadesi.
The Sarabha who, having made a connection with a stone, completely lifted you out of the chasm difficult to escape; who freed you, afflicted by suffering, from the mouth of death—that deer of unshrinking mind you now praise.
Con nai Sarabha đã kết hợp với tảng đá để cứu vớt ngài khỏi vực thẳm khó thoát, đã giải thoát ngài, người đang gặp đau khổ, khỏi miệng thần chết. Ngài đang tán thán con nai có tâm không nao núng ấy.
142.
142.
142.
Kiṃ tvaṃ nu † tattheva tadā ahosi, udāhu te koci naṃ † etadakkhā;
Vivaṭṭacchaddo nusi sabbadassī, ñāṇaṃ nu te brāhmaṇa bhiṃsarūpaṃ.
Brahmin, were you indeed there at that time? Or did someone tell you of this matter? Are you one with the veil removed, one who is all-seeing? Your knowledge, indeed, is of a fearsome nature!
Này Bà-la-môn, có phải lúc đó ngươi đã ở chính nơi ấy? Hay là có ai đó đã kể cho ngươi nghe chuyện này? Có phải ngươi là bậc đã vén màn vô minh, bậc Toàn Tri? Trí tuệ của ngươi thật đáng kinh ngạc thay!
143.
143.
143.
Na cevahaṃ tattha tadā ahosiṃ, na cāpi me koci naṃ † etadakkhā;
Gāthāpadānañca subhāsitānaṃ, atthaṃ tadānenti janinda dhīrā.
I was not there at that time, nor did anyone tell me of this matter. But, O lord of men, the wise deduce the meaning of well-spoken stanzas.
Tâu Đại vương, lúc đó tôi đã không ở chính nơi ấy, và cũng không có ai kể cho tôi nghe chuyện này. Tâu đức vua, những người trí suy ra được ý nghĩa của những câu kệ được khéo nói.
144.
144.
144.
Ādāya pattiṃ † paraviriyaghātiṃ, cāpe saraṃ kiṃ vicikicchase tuvaṃ;
Nunno † saro sarabhaṃ hantu khippaṃ, annañhi etaṃ varapañña rañño.
O you of excellent wisdom, having taken the feathered arrow that destroys another's effort and placed it on the bow, why do you hesitate? Let the impelled arrow quickly kill the Sarabha, for this is indeed the food of the king.
Hỡi bậc trí tuệ bậc nhất, ngài đã đặt lên cung mũi tên có lông vũ, hủy diệt nỗ lực của kẻ khác, sao ngài còn do dự? Mũi tên được phóng đi hãy mau giết con nai Sarabha. Vì rằng nó là thức ăn của nhà vua.
145.
145.
145.
Addhā pajānāmi ahampi etaṃ, annaṃ migo brāhmaṇa khattiyassa;
Pubbe katañca † apacāyamāno, tasmā migaṃ sarabhaṃ no hanāmi.
Brahmin, I too certainly know this: that a deer is the food of a kshatriya. However, honoring the favor done in the past, therefore I will not kill the Sarabha deer.
Hỡi Bà-la-môn, ta cũng biết chắc rằng loài nai là thức ăn của giai cấp Sát-đế-lỵ. Tuy nhiên, vì tôn trọng ơn nghĩa đã làm trước đây, do đó ta sẽ không giết con nai Sarabha.
146.
146.
146.
Neso migo mahārāja, asureso disampati;
Etaṃ hantvā manussinda, bhavassu amarādhipo.
This is no deer, O Great King; this, O lord of the directions, is an Asura. Having killed him, O lord of men, become yourself the sovereign of the immortals.
Tâu Đại vương, đây không phải là con nai. Tâu chúa tể các phương, đây là một vị thiên chủ. Tâu vua của loài người, sau khi giết vị này, ngài hãy trở thành vua của các vị bất tử.
147.
147.
147.
Sace ca rājā † vicikicchase tuvaṃ, hantuṃ migaṃ sarabhaṃ sahāyakaṃ †;
Saputtadāro naravīraseṭṭha †, gantvā † tuvaṃ vetaraṇiṃ yamassa.
O King, if you hesitate to kill the Sarabha deer, your companion, then, O best of heroic men, you, together with your wife and children, will go to Yama's Vetaraṇī.
Tâu đức vua, hỡi bậc anh hùng cao quý nhất, nếu ngài do dự trong việc giết con nai Sarabha, người bạn của ngài, thì ngài cùng với vợ con sẽ phải đi đến sông Vetaraṇī của vua Yama.
148.
148.
148.
Kāmaṃ ahaṃ jānapadā ca sabbe, puttā ca dārā ca sahāyasaṅghā;
Gacchemu taṃ vetaraṇiṃ yamassa, na tveva hañño mama pāṇado yo †.
Let myself and all the people of the country, my children and my wives, and my assembly of friends—let us willingly go to that Vetaraṇī of Yama. Even so, I shall never kill the one who gave me my life.
Cứ mặc cho ta, cùng tất cả dân chúng, con cái, vợ và bạn bè thân hữu, phải đi đến sông Vetaraṇī của vua Yama; ta cũng sẽ không giết người đã cho ta mạng sống.
149.
149.
149.
Ayaṃ migo kicchagatassa mayhaṃ, ekassa kattā vivanasmi ghore;
Taṃ tādisaṃ pubbakiccaṃ saranto, jānaṃ mahābrahme kathaṃ haneyyaṃ.
This deer was a benefactor to me when I was alone and had come to hardship in the fearsome wilderness. Remembering that former deed of such a nature, and knowing his favor, O Great Brahmin, how could I kill him?
Hỡi đại Phạm thiên, con nai này đã làm ơn cho ta khi ta một mình gặp khốn khó trong khu rừng đáng sợ. Ta đây, đang nhớ đến ơn nghĩa đã làm trước đây như vậy và biết rõ điều đó, làm sao ta có thể giết được?
150.
150.
150.
Mittābhirādhī cirameva jīva, rajjaṃ imaṃ dhammaguṇe † pasāsa;
Nārīgaṇehi paricāriyanto, modassu raṭṭhe tidiveva vāsavo.
O you who conciliates your friends, may you live for a very long time! Govern this kingdom righteously. Being attended by your retinue of ladies, rejoice in your realm like Vāsava in heaven.
Hỡi người làm vui lòng bạn bè, xin ngài hãy sống thật lâu! Hãy cai trị vương quốc này với những phẩm hạnh của Chánh pháp. Được các cung nữ hầu hạ, xin ngài hãy hoan hỷ trong vương quốc, như vua Đế Thích ở cõi trời Ba mươi ba.
151.
151.
151.
Akkodhano niccapasannacitto, sabbātithī yācayogo bhavitvā †;
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ, anindito saggamupehi ṭhānanti.
Being without anger, with a mind ever serene, becoming a host to all and worthy of requests; having given and enjoyed according to your means, being blameless, you will go to the heavenly state.
Không sân hận, tâm luôn trong sáng, trở thành người đáng được tất cả các vị khách cầu xin; đã cho và đã dùng tùy theo khả năng, không bị chê trách, hãy đi đến cảnh trời.
Sarabhamigajātakaṃ dasamaṃ.
The Jātaka of the Sarabha Deer, the Tenth.
Truyện Bổn sanh Sarabhamiga, thứ mười.
The Thirteenth Nipāta is finished.
Phẩm Mười Ba Kệ đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm lược của phẩm ấy –
Varaamba kuṭhāri sahaṃsavaro, atharaññasmiṃ dūtakapañcamako;
Atha bodhi akitti sutakkarinā, atha rurumigenaparo sarabhoti.
The excellent Amba, Kuṭhāri, and the excellent Haṃsa; then the one of the forest, and Dūtaka as the fifth; then Bodhi, Akitti, and Sutakkāriya; then the Ruru deer, and the other, Sarabha.
Truyện Amba, Kuṭhāri, cùng với Haṃsa cao quý; rồi đến Arañña, và Dūtaka là thứ năm; rồi Bodhi, Akitti, Sutakkarinā; rồi Rurumiga và truyện Sarabha khác.