Bản dịch
JA 481 — Chuyện Hiền Giả Takkàriya (Tiền thân Takkàriya)
8. Takkāriyajātaka
1885. “Chính ta là kẻ ngu đã nói lời được nói vụng về, tựa như con nhái ở trong rừng đang gọi con rắn. Này Takkāriya, ta rơi vào cái hố này. Thật vậy, việc nói quá nhiều không bao giờ tốt lành!
1886. “Người nói quá nhiều nhận lãnh sự giam cầm, sự tử hình, sự sầu muộn và sự than khóc. Về việc này, thầy hãy chê trách chính bản thân. Thưa thầy, vì việc ấy, chúng chôn vùi thầy ở cái hố.”
1887. “Thật vậy, ta đã gặn hỏi Tuṇḍila điều gì về việc nàng Kāḷikā có thể làm với anh trai của nàng? Và ta bị cướp mất hai mảnh vải, ta hoàn toàn lõa lồ. Ý nghĩa này cũng y như vậy với nhiều sự việc.”
1888. “Là kẻ không tham gia đánh nhau giữa hai kẻ đang đánh nhau, con chim sẻ đã lao vào giữa hai con cừu. Trong trường hợp ấy, nó đã bị đầu của hai con cừu ép chết. Ý nghĩa này cũng y như vậy với nhiều sự việc.”
1889. “Bốn người đã giữ lấy tấm vải bố, và trong lúc đang bảo vệ một người, tất cả bọn họ đã nằm dài, các cái đầu bị vỡ tan. Ý nghĩa này cũng y như vậy với nhiều sự việc.”
1890. Giống như con dê cái bị trói ở lùm tre, trong lúc nhảy cỡn đã có được cây dao. Với chính cây dao ấy, cổ của con dê cái đã bị cắt lìa. Ý nghĩa này cũng y như vậy với nhiều sự việc.”
1891. “Những kẻ này không phải là Thiên thần, cũng không phải là con cái của các nhạc sĩ Thiên đình, những kẻ này là loài thú, những kẻ này được đem lại để trẫm sử dụng. Vậy hãy bảo bọn họ nấu một đứa cho bữa ăn buổi tối, và hãy bảo bọn họ nấu một đứa nữa cho bữa ăn buổi sáng.”
1892. “Một trăm ngàn lời vụng nói không giá trị bằng một phần của lời được khéo nói. Trong khi phân vân về lời vụng nói là ô nhiễm; vì thế, loài nhân điểu giữ im lặng, không phải vì ngu dốt.”
1893. “Nàng này đã giải thích cho trẫm. Các khanh hãy thả nàng ấy. Và hãy bảo bọn họ đưa nàng ấy đến ngọn núi có tuyết phủ. Còn hãy giao kẻ này cho nhà bếp. Sáng sớm mai, hãy bảo bọn họ nấu kẻ ấy cho bữa ăn buổi sáng.”
1894. “Các con thú có sự phụ thuộc vào cơn mưa. Loài người này có sự phụ thuộc vào các con thú. Tâu đại vương, thần có sự phụ thuộc vào bệ hạ. Người vợ của thần có sự phụ thuộc vào thần. Sau khi biết được một người nào đó trong hai người (đã chết), người được thả ra mới có thể đi đến ngọn núi.
1895. Thật vậy, không dễ gì tránh khỏi sự chê bai. Loài người có sở thích khác nhau nên cần được phục vụ khác nhau, tâu vị chúa của loài người. Vì một điều nào đó, người này nhận được sự khen ngợi, do chính điều đó, người khác nhận được sự chê bai.
1896. Tất cả thế gian là không có sự nhận biết với tâm của người khác. Tất cả thế gian có sự nhận biết về tâm của mình. Tất cả chúng sanh có tâm riêng biệt theo từng cá nhân. Công việc được vận hành ở đây do năng lực tâm của người nào?
1897. “Gã nhân điểu cùng với người vợ đã im lặng, là kẻ, giờ đây, bị sợ hãi bởi sự nguy hiểm, nên đã giải thích. Kẻ ấy, giờ đây, đã được thả ra, được sung sướng, không tật bệnh. Thật vậy, chính lời nói là có sự lợi ích cho những con người.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ahameva dubbhāsitaṃ bhāsi bālo, bhekovaraññe ahimavhāyamāno †;
Takkāriye sobbhamimaṃ † patāmi, na kireva sādhu ativelabhāṇī †.
I myself, being a fool, have spoken ill-spoken words, like a frog in the forest calling a snake. O Takkāriya, I shall fall into this pit. Indeed, it is said that one who speaks excessively is not good.
Chính ta, kẻ ngu si, đã nói lời ác ngữ, giống như con ếch trong rừng gọi con rắn. Này Takkāriya, ta sẽ rơi vào hố này. Ta nghe nói rằng người nói quá lời thật không tốt.
105.
105.
105.
Pappoti macco ativelabhāṇī, bandhaṃ vadhaṃ sokapariddavañca;
Attānameva garahāsi ettha, ācera yaṃ taṃ nikhaṇanti sobbhe.
A mortal who speaks excessively obtains bondage, killing, and sorrow and lamentation. O teacher, blame your own self in this matter, for you yourself have created the reason for which they will bury you in the pit.
Người nói quá lời sẽ gặp phải sự trói buộc, giết chóc, sầu muộn và than khóc. Thưa thầy, hãy tự trách mình về việc này, vì chính thầy mà họ chôn thầy xuống hố.
106.
106.
106.
Kimevahaṃ tuṇḍilamanupucchiṃ, kareyya saṃ † bhātaraṃ kāḷikāyaṃ †;
Naggovahaṃ † vatthayugañca jīno, ayampi attho bahutādisova.
Why did I ever ask Tuṇḍila? I treated Kāḷī's brother with courtesy. Deprived of my pair of cloths, I am now naked. This matter, too, is very much like that.
Tại sao ta lại hỏi Tuṇḍila? Ta đã đối xử tử tế với em trai của Kāḷī. Ta đã bị mất cả đôi y phục và trở nên trần truồng. Sự việc này cũng rất giống như vậy.
107.
107.
107.
Yo yujjhamānānamayujjhamāno †, meṇḍantaraṃ accupatī kuliṅgo;
So piṃsito meṇḍasirehi tattha, ayampi attho bahutādisova.
The drongo bird that, while not fighting among those who were fighting, flew in between the rams, was crushed there by the rams' heads. This matter, too, is very much like that.
Con chim chèo bẻo không tham chiến, bay vào giữa hai con cừu đang húc nhau; nó bị nghiền nát giữa hai đầu cừu ở đó. Sự việc này cũng rất giống như vậy.
108.
108.
108.
Caturo janā potthakamaggahesuṃ, ekañca posaṃ anurakkhamānā;
Sabbeva te bhinnasirā sayiṃsu, ayampi attho bahutādisova.
Four persons, while protecting one man, seized a hempen cloth. All of them lay down with shattered heads. This matter, too, is very much like that.
Bốn người giữ một tấm vải gai, để bảo vệ một người; tất cả họ đều nằm đó với đầu bị vỡ. Sự việc này cũng rất giống như vậy.
109.
109.
109.
Ajā yathā veḷugumbasmiṃ baddhā †, avakkhipantī asimajjhagacchi;
Teneva tassā galakāvakantaṃ †, ayampi attho bahutādisova.
Just as a goat, tied in a bamboo clump, while struggling, came upon a sword; by that very sword her throat was cut. This matter, too, is very much like that.
Như con dê bị buộc trong bụi tre, đang nhảy nhót, đã đá phải thanh gươm; chính vì thế mà cổ của nó bị cắt. Sự việc này cũng rất giống như vậy.
110.
110.
110.
Ime na devā na gandhabbaputtā, migā ime atthavasaṃ gatā me †;
Ekañca naṃ sāyamāse pacantu, ekaṃ punappātarāse † pacantu.
These are not devas, nor sons of gandhabbas; these are beasts that have come into my power. Let them cook one for the evening meal, and another for the morning meal.
Chúng không phải là chư thiên, không phải là con của càn-thát-bà. Chúng là loài thú đã thuộc về quyền sở hữu của ta. Hãy nấu một con cho bữa ăn chiều, và một con nữa cho bữa ăn sáng.
111.
111.
111.
Sataṃ sahassāni dubhāsitāni, kalampi nāgghanti subhāsitassa;
Dubbhāsitaṃ saṅkamāno kileso †, tasmā tuṇhī kimpurisā † na bālyā.
A hundred thousand ill-spoken words are not worth even a sixteenth part of a well-spoken word. Speaking ill-spoken words is a defilement; therefore, the Kinnarī is silent, not out of foolishness.
Một trăm ngàn lời ác ngữ cũng không bằng một phần nhỏ của một lời thiện thuyết. Lo sợ lời ác ngữ là một phiền não, vì vậy người khẩn-na-la im lặng, không phải vì ngu si.
112.
112.
112.
Yā mesā byāhāsi † pamuñcathetaṃ, giriñca naṃ † himavantaṃ nayantu;
Imañca kho dentu mahānasāya, pātova naṃ pātarāse pacantu.
Release her who spoke to me; let them lead her to the Himavanta mountain. As for this male, give him to the royal kitchen; let them cook him for the morning meal, early in the morning.
Người đã nói với ta, hãy thả nàng ra. Hãy đưa nàng đến ngọn núi Hy-mã-lạp. Còn con đực này, hãy giao cho nhà bếp. Sáng sớm mai, hãy nấu nó làm bữa ăn sáng.
113.
113.
113.
Pajjunnanāthā pasavo, pasunāthā ayaṃ pajā;
Tvaṃ nāthosi † mahārāja, nāthohaṃ bhariyāya me †;
Cattle have the rain-cloud as their refuge; this populace has cattle as its refuge. You are my refuge, O great king, and I am the refuge of my wife.
Loài gia súc có mây mưa làm chủ, dân chúng này có gia súc làm chủ. Thưa đại vương, ngài là chủ của tôi, và tôi là chủ của vợ tôi.
Dvinnamaññataraṃ ñatvā, mutto gaccheyya pabbataṃ.
When one of the two of us is known to be dead, the one who is freed should go to the mountain.
Khi biết một trong hai chúng tôi đã chết, người còn lại được tự do, hãy đi về núi.
114.
114.
114.
Na ve nindā suparivajjayetha †, nānā janā sevitabbā janinda;
Yeneva eko labhate pasaṃsaṃ, teneva añño labhate ninditāraṃ.
Indeed, O king of men, one cannot easily avoid blame, as various people are to be associated with. For by the very same quality for which one person gains praise, another earns blame.
Thưa nhân chủ, sự chê bai quả thật không dễ tránh khỏi, vì phải giao thiệp với nhiều hạng người. Chính vì điều mà người này được khen ngợi, thì người khác lại bị chê bai.
115.
115.
115.
Sabbo loko paricitto aticitto †, sabbo loko cittavā samhi citte;
Paccekacittā puthu sabbasattā, kassīdha cittassa vase na vatte.
The entire world has a mind that wishes to control others. The entire world has a mind according to its own disposition. All the many beings have their own individual minds. Here, according to whose mind should one act?
Tất cả thế gian đều có tâm riêng, tâm khác biệt. Tất cả thế gian đều có tâm theo ý mình. Tất cả chúng sanh đều có tâm riêng biệt. Ở đây, người ta nên hành động theo ý của ai?
116.
116.
116.
Tuṇhī ahū kimpuriso sabhariyo †, yo dāni byāhāsi bhayassa bhīto;
So dāni mutto sukhito arogo, vācākirevattavatī narānanti.
The Kinnara with his wife was silent; he who has now spoken, being afraid of danger, is now freed, happy, and healthy. Indeed, it is said that for humans, timely speech is what brings benefit.
Người khẩn-na-la cùng với vợ đã im lặng. Người mà bây giờ, vì sợ hãi, đã lên tiếng. Giờ đây người ấy được giải thoát, an lạc, không bệnh tật. Lời nói của con người quả thật có ích lợi.
Takkāriyajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Takkāriya Jātaka, the Eighth.
Chuyện Bổn sanh Takkāriya, thứ tám.
482. Rurumigarājajātakaṃ (9)
482. The Jātaka of the Ruru Deer King (9)
482. Chuyện Bổn sanh Vua Nai Ruru (9)
117.
117.
117.