Bản dịch
JA 480 — Chuyện Hiền Giả Akitta (Tiền thân Akitta)
7. Akittijātaka
1864. Sau khi nhìn thấy Akitti đang ngồi tĩnh tâm, Thiên Chủ Sakka, vị Chúa của các sinh linh, đã nói rằng: “Này vị Bà-la-môn vĩ đại, với mục đích gì mà ông một mình ngồi tĩnh tâm vào lúc nóng nực?”
1865. “Thưa Sakka, việc hiện hữu lần nữa và sự hoại rã của thân thể là khổ, cái chết với sự mê mờ là khổ; vì thế, tôi ngồi tĩnh tâm, thưa Thiên Chủ.”
1866. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1867. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, thì do tham ái nào khiến những người nam sau khi đã đạt được các con cái, các người vợ, tài sản, thóc lúa, và những vật yêu quý, vẫn không thỏa mãn, xin cho tham ái ấy không ngụ ở nơi tôi.”
1868. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1869. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, thì do sân hận nào sanh lên khiến ruộng, vườn, vàng, bò, ngựa, nô lệ, và con người bị tiêu hoại, xin cho sân hận ấy không ngụ ở nơi tôi.”
1870. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1871. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, xin cho tôi không nhìn thấy kẻ ngu, không nghe tiếng, không sống chung với kẻ ngu, không thực hiện và không vui thích việc trao đổi và trò chuyện với kẻ ngu.”
1872. “Vậy kẻ ngu đã làm gì đến ông? Này Kassapa, ông hãy nói lý do. Này Kassapa, vì sao ông không mong muốn việc nhìn thấy kẻ ngu?”
1873. “Kẻ ngu muội hướng dẫn điều không đúng phương pháp; kẻ ấy gắn bó vào việc không phải là trách nhiệm; sự hướng dẫn tồi thì kẻ ấy làm tốt hơn; khi được nói điều đúng đắn kẻ ấy lại nổi giận; kẻ ấy không biết nguyên tắc; tốt lành thay việc không nhìn thấy kẻ ấy!”
1874. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1875. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, xin cho tôi nhìn thấy bậc sáng trí, nghe tiếng, sống chung với bậc sáng trí, thực hiện và vui thích việc trao đổi và trò chuyện với bậc sáng trí.”
1876. “Vậy bậc sáng trí đã làm gì cho ông? Này Kassapa, ông hãy nói lý do. Này Kassapa, vì sao ông mong muốn việc nhìn thấy bậc sáng trí?”
1877. “Bậc thông minh hướng dẫn điều đúng phương pháp; vị ấy không gắn bó vào việc không phải là trách nhiệm; sự hướng dẫn khéo léo thì vị ấy làm tốt hơn; khi được nói điều đúng đắn vị ấy không giận dữ; vị ấy biết nguyên tắc; tốt lành thay việc gặp gỡ với vị ấy!”
1878. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1879. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, kế đó, vào lúc tàn đêm, sự mọc lên của mặt trời đã đến, có các thức ăn thuộc cõi trời hiện ra, và những vị khất thực là có giới hạnh.
1880. Trong khi tôi đang bố thí thì không bị cạn kiệt, và sau khi bố thí tôi không hối tiếc. Trong khi bố thí, tôi có thể khiến cho tâm được tịnh tín. Thưa Sakka, tôi xin chọn điều ân huệ ấy.”
1881. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Kassapa, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1882. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, xin ngài không đến thăm tôi nữa. Thưa Sakka, tôi xin chọn điều ân huệ ấy.”
1883. “Thông qua nhiều phận sự và hạnh lành, các người nam và nữ mong mỏi việc nhìn thấy ta, vậy có nguy hiểm gì trong việc nhìn thấy ta?”
1884. “Sau khi nhìn thấy ngài với vẻ đẹp Thiên thần, với sự thành tựu mọi điều mong muốn như thế ấy, tôi có thể xao lãng hạnh khắc khổ; điều ấy là sự nguy hiểm trong việc nhìn thấy ngài.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Akittiṃ † disvā sammantaṃ, sakko bhūtapatī bravi;
Kiṃ patthayaṃ mahābrahme, eko sammasi ghammani.
Having seen the tranquil Akitti, Sakka, the lord of beings, said: 'O great brahmin, desiring what do you dwell alone and peacefully in this hot place?'
Thấy Akitti đang an tịnh, Sakka, chúa tể của chúng sanh, đã nói: 'Hỡi vị Phạm thiên cao cả, ngài mong cầu điều gì mà ngồi an tịnh một mình trong nơi nóng nực?'
84.
84.
84.
Dukkho punabbhavo sakka, sarīrassa ca bhedanaṃ;
Sammohamaraṇaṃ dukkhaṃ, tasmā sammāmi vāsava.
Rebirth is suffering, O Sakka, and the breaking up of the body; dying in delusion is suffering. Therefore, O Vāsava, I dwell peacefully.
Tâu Sakka, tái sanh là khổ, và sự tan rã của thân xác cũng là khổ. Cái chết trong si mê là khổ, vì vậy, hỡi Vāsava, tôi sống an tịnh.
85.
85.
85.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Vì lời khéo nói này của ngài, lời thích hợp, lời thiện thuyết, hỡi Kassapa, ta ban cho ngài một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
86.
86.
86.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Yena putte ca dāre ca, dhanadhaññaṃ piyāni ca;
Laddhā narā na † tappanti, so lobho na mayī vase.
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: that greed, by which people, having obtained sons and wives, wealth and grain, and other dear things, are not satisfied—may that greed not dwell in me.
Tâu Sakka, hỡi chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một điều ước, thì mong rằng lòng tham ấy, mà do nó con người sau khi có được con cái, vợ, tài sản, ngũ cốc và những thứ khả ái vẫn không thỏa mãn, sẽ không ngự trị trong tôi.
87.
87.
87.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Vì lời khéo nói này của ngài, lời thích hợp, lời thiện thuyết, hỡi Kassapa, ta ban cho ngài một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
88.
88.
88.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Khettaṃ vatthuṃ hiraññañca, gavassaṃ dāsaporisaṃ;
Yena jātena jīyanti, so doso na mayī vase.
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: that hatred, by which, when it has arisen, fields, land, gold, cattle and horses, and servants are lost—may that hatred not dwell in me.
Tâu Sakka, hỡi chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một điều ước, thì mong rằng sân hận ấy, mà do nó sanh khởi khiến cho ruộng, đất, vàng, bò, ngựa, tôi tớ và người làm công bị tổn thất, sẽ không ngự trị trong tôi.
89.
89.
89.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Vì lời khéo nói này của ngài, lời thích hợp, lời thiện thuyết, hỡi Kassapa, ta ban cho ngài một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
90.
90.
90.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Bālaṃ na passe na suṇe, na ca bālena saṃvase;
Bālenallāpa † sallāpaṃ, na kare na ca rocaye.
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: may I not see a fool, nor hear of one, nor associate with a fool; may I not engage in talk or conversation with a fool, nor delight in him.
Tâu Sakka, hỡi chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một điều ước: Mong tôi không thấy, không nghe kẻ ngu, không chung sống với kẻ ngu, không trò chuyện đàm luận với kẻ ngu, và cũng không ưa thích kẻ ngu.
91.
91.
91.
Kiṃ nu te akaraṃ bālo, vada kassapa kāraṇaṃ;
Kena kassapa bālassa, dassanaṃ nābhikaṅkhasi.
What, pray, has a fool done to you? Speak, Kassapa, the reason. Why, Kassapa, do you not desire to see a fool?
Kẻ ngu đã làm gì ngài? Hỡi Kassapa, hãy nói lý do. Vì sao, hỡi Kassapa, ngài không mong muốn thấy kẻ ngu?
92.
92.
92.
Anayaṃ nayati dummedho, adhurāyaṃ niyuñjati;
Dunnayo seyyaso hoti, sammā vutto pakuppati;
Vinayaṃ so na jānāti, sādhu tassa adassanaṃ.
The one of little wisdom leads to a wrong course; he engages in what is not his duty. A wrong course seems better to him; when spoken to rightly, he becomes angry. He does not know discipline; therefore, not seeing him is good.
Kẻ ngu dốt dẫn đến điều phi pháp, nó dấn thân vào việc không nên làm. Đối với nó, cách hành xử sai trái lại tốt hơn; khi được nói đúng đắn, nó lại tức giận. Nó không biết đến kỷ luật, vì vậy không thấy nó là điều tốt lành.
93.
93.
93.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Vì lời khéo nói này của ngài, lời thích hợp, lời thiện thuyết, hỡi Kassapa, ta ban cho ngài một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
94.
94.
94.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Dhīraṃ passe suṇe dhīraṃ, dhīrena saha saṃvase;
Dhīrenallāpasallāpaṃ, taṃ kare tañca rocaye.
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: may I see the wise, may I hear of the wise, may I dwell together with the wise; may I have talk and conversation with the wise, and may I delight in him.
Tâu Sakka, hỡi chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một điều ước: Mong tôi được thấy người trí, được nghe về người trí, được chung sống cùng người trí, được trò chuyện đàm luận với người trí ấy, và ưa thích người trí ấy.
95.
95.
95.
Kiṃ nu te akaraṃ dhīro, vada kassapa kāraṇaṃ;
Kena kassapa dhīrassa, dassanaṃ abhikaṅkhasi.
What, pray, has a wise one done for you? Speak, Kassapa, the reason. Why, Kassapa, do you long for a sight of the wise one?
Người trí đã làm gì cho ngài? Hỡi Kassapa, hãy nói lý do. Vì sao, hỡi Kassapa, ngài lại mong muốn thấy người trí?
96.
96.
96.
Nayaṃ nayati medhāvī, adhurāyaṃ na yuñjati;
Sunayo seyyaso hoti, sammā vutto na kuppati;
Vinayaṃ so pajānāti, sādhu tena samāgamo.
The intelligent one leads to a right course; he does not engage in what is not his duty. A good course seems better to him; when spoken to rightly, he does not become angry. He understands discipline; good is association with him.
Người có trí tuệ dẫn đến điều chánh pháp, không dấn thân vào việc không nên làm. Đối với vị ấy, cách hành xử tốt đẹp là điều tốt hơn; khi được nói đúng đắn, vị ấy không tức giận. Vị ấy biết rõ kỷ luật, vì vậy được hội ngộ với vị ấy là điều tốt lành.
97.
97.
97.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Vì lời khéo nói này của ngài, lời thích hợp, lời thiện thuyết, hỡi Kassapa, ta ban cho ngài một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
98.
98.
98.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Tato ratyā vivasāne †, sūriyuggamanaṃ † pati;
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: then at the end of the night, towards the rising of the sun—
Tâu Sakka, hỡi chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một điều ước: Thì sau đó, vào lúc cuối đêm, khi mặt trời mọc,
Dibbā bhakkhā pātubhaveyyuṃ, sīlavanto ca yācakā.
may divine foods appear, and virtuous supplicants.
Mong cho các món ăn của chư thiên và những người xin có giới đức được hiện ra.
99.
99.
99.
Dadato me † na khīyetha, datvā nānutapeyyahaṃ;
Dadaṃ cittaṃ pasādeyyaṃ, etaṃ sakka varaṃ vare.
May my provisions not be exhausted while I am giving, may I not regret having given; while giving, may I gladden my mind. This, O Sakka, is the boon I choose.
Thưa ngài Sakka, mong cho của cải của con không cạn kiệt khi bố thí, sau khi bố thí con không hối tiếc. Khi đang bố thí, mong cho tâm con được trong sạch. Con xin chọn ân huệ ấy.
100.
100.
100.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ kassapa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and fine utterance of yours, I grant you a boon, Kassapa, whatever you desire in your mind.
Này Kassapa, vì lời nói khéo nói, thích hợp, thiện thuyết này của ông, ta ban cho ông một ân huệ, bất cứ điều gì ông mong muốn trong tâm.
101.
101.
101.
Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Na maṃ puna upeyyāsi, etaṃ sakka varaṃ vare.
If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings: may you not approach me again. This, O Sakka, is the boon I choose.
Thưa ngài Sakka, vị Chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho con một ân huệ, thì mong ngài đừng đến gặp con lần nữa. Thưa ngài Sakka, con xin chọn ân huệ ấy.
102.
102.
102.
Bahūhi vatacariyāhi †, narā ca atha nāriyo;
Dassanaṃ abhikaṅkhanti, kiṃ nu me dassane bhayaṃ.
By many observances, both men and women long for a sight of me. What fear, pray, is there in seeing me?
Cả nam và nữ, với nhiều hạnh nguyện, đều mong mỏi được thấy ta. Vậy trong việc thấy ta có điều gì đáng sợ chứ?
103.
103.
103.
Taṃ tādisaṃ devavaṇṇaṃ †, sabbakāmasamiddhinaṃ;
Disvā tapo pamajjeyya †, etaṃ te dassane bhayanti.
Seeing such a divine form, endowed with all sensual pleasures, one might neglect ascetic practice. This is the fear in seeing you.
Khi thấy dung sắc của chư thiên như vậy, đầy đủ tất cả dục lạc, người tu khổ hạnh có thể xao lãng. Đó là điều đáng sợ trong việc thấy ngài.
Akittijātakaṃ sattamaṃ.
The Akitti Jātaka, the Seventh.
Chuyện Bổn sanh Akitti, thứ bảy.