Bản dịch
JA 479 — Chuyện Cây Bồ Đề v à Thánh Đế Kalinga (Tiền thân Kalinga-Bodhi)
6. Kāliṅgabodhijātaka
1848. “Đức Chuyển Luân Vương Kāliṅga, trong lúc trị vì trái đất đúng theo pháp, đã đi đến khu vực lân cận cội Bồ Đề bằng con voi có đại oai lực.
1849. Vị quan tế tự Kāliṅga Bhāradvāja sau khi xem xét, đã chắp tay lại và đã nói với đức vua Kāliṅga, con trai của hai vị đạo sĩ khổ hạnh, vị Chuyển Luân Vương điều này:
1850. ‘Tâu đại vương, xin bệ hạ hãy bước xuống. Mảnh đất này theo như đã được lưu truyền thì Chư Phật Chánh Đẳng Giác, các bậc không có người nào cao quý hơn, chói sáng ở nơi này.
1851. Các cây cỏ và dây leo ở mảnh đất này đã xoay mình theo phía bên phải (để tỏ sự cung kính). Đây là nơi thiêng liêng của trái đất. Chúng thần đã được nghe như thế, tâu đại vương.
1852. Ở mặt đất được bao quanh bởi biển cả, ở nơi nâng đỡ tất cả các sinh linh, đây là nơi thiêng liêng của trái đất. Xin bệ hạ hãy bước xuống và thực hiện sự lễ bái.
1853. Các con voi dầu đã được sanh ra cao quý từ bên dòng voi mẹ và từ bên dòng voi cha, các con voi ấy không bao giờ tiếp cận được khu vực, cho đến giới hạn này.
1854. Con voi của bệ hạ đã được sanh ra cao quý, bệ hạ hãy truyền lệnh cho con vật cao cả, có sự thuần phục, theo như ý thích, và cho đến giới hạn này là khu vực có thể tiếp cận được bởi con voi ấy.’
1855. Sau khi nghe điều ấy, đức vua Kāliṅga đã suy nghĩ về lời nói của vị tiên tri rồi đã thúc con voi tiến tới (nghĩ rằng): ‘Như thế này chúng ta sẽ biết được lời nói này (đúng hay sai).’
1856. Và bị thúc tiến tới bởi đức vua, con voi đã kêu lớn tựa như loài cò, rồi đã bước lui, và ngồi xuống, trong khi không chịu đựng nỗi gánh nặng.
1857. Viên quan tế tự Kāliṅga Bhāradvāja, sau khi biết được con voi có tuổi thọ đã cạn kiệt, đã vội vã tâu với đức vua Kāliṅga rằng: “Tâu đại vương, xin bệ hạ hãy bước qua con voi khác. Con voi có tuổi thọ đã cạn kiệt.’
1858. Sau khi nghe điều ấy, đức vua Kāliṅga đã vội vã bước sang con voi khác. Và trong khi đức vua đang bước qua, con voi đã ngã xuống ở trên mặt đất, ngay tại chỗ ấy. Lời nói của vị tiên tri như thế nào, thì con voi đã là như thế ấy.
1859. Đức vua Kāliṅga đã nói với vị Bà-la-môn Kāliṅga Bhāradvāja điều này: ‘Khanh chính là vị hoàn toàn giác ngộ, bậc toàn tri, vị thấy tất cả.’
1860. Không đồng ý lời nói ấy, vị Bà-la-môn Kāliṅga đã nói điều này: ‘Tâu đại vương, chúng thần chỉ là những nhà tiên tri. Chư Phật mới đúng là các bậc Toàn Tri.
1861. Chư Phật là các bậc Toàn Tri và là các bậc hiểu biết tất cả, các ngài không biết các điềm báo hiệu. Chúng tôi tùy thuộc vào năng lực của sự truyền thừa, trái lại chư Phật nhận biết tất cả.’
1862. Sau khi tế lễ trọng thể đến cội Bồ Đề với nhiều loại nhạc cụ đang được tấu lên, sau khi mang lại tràng hoa, vật thơm, và dầu thoa, đức vua đã cho xây dựng tường rào vòng quanh.
1863. Sau khi đã cho mang lại sáu mươi ngàn cỗ xe bông hoa, đức vua Kāliṅga đã cúng dường ở cội Bồ Đề cao quý tối thượng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Rājā kāliṅgo cakkavatti, dhammena pathavimanusāsaṃ †;
Agamā † bodhisamīpaṃ, nāgena mahānubhāvena.
King Kāliṅga, a wheel-turning monarch, ruling the earth righteously, approached the vicinity of the Bodhi tree with a great-powered elephant.
Vua Kāliṅga, một vị Chuyển Luân Vương, trong khi đang cai trị trái đất một cách hợp pháp, đã đi đến gần cây Bồ-đề cùng với con voi có đại thần lực.
68.
68.
68.
Kāliṅgo bhāradvājo ca, rājānaṃ kāliṅgaṃ samaṇakolaññaṃ;
Cakkaṃ vattayato pariggahetvā †, pañjalī idamavoca.
Kāliṅga of the Bhāradvāja clan, having investigated the area, with joined palms spoke this to King Kāliṅga, who was of the lineage of ascetics and was causing the wheel to turn.
Vị Bà-la-môn Kāliṅga Bhāradvāja, sau khi đã xem xét, đã chắp tay lại và nói điều này với vua Kāliṅga, người đang chuyển bánh xe, thuộc dòng dõi của các vị Sa-môn.
69.
69.
69.
Paccoroha mahārāja, bhūmibhāgo yathā samaṇuggato †;
Idha anadhivarā buddhā, abhisambuddhā virocanti.
Descend, O great king, to this portion of the earth which is praised by ascetics. Here the Buddhas, who are unsurpassed and fully enlightened, shine forth.
Tâu đại vương, xin hãy xuống ngựa. Mảnh đất này đã được các vị Sa-môn tán thán. Tại nơi đây, các vị Phật, những bậc Vô Thượng, những đấng Chánh Đẳng Giác, đã tỏa sáng rực rỡ.
70.
70.
70.
Padakkhiṇato āvaṭṭā, tiṇalatā asmiṃ bhūmibhāgasmiṃ;
Pathaviyā nābhiyaṃ † maṇḍo, iti no sutaṃ mante mahārāja †.
On this portion of the earth, the grass and creepers turn clockwise. This is the navel of the earth, the very essence. Thus, O great king, have we heard in the sacred texts.
Trên mảnh đất này, cỏ và dây leo đều xoay theo chiều kim đồng hồ. Đây là trung tâm của trái đất, là nơi tinh yếu. Tâu đại vương, chúng con đã được nghe như vậy trong các thánh điển.
71.
71.
71.
Sāgarapariyantāya, mediniyā sabbabhūtadharaṇiyā;
Pathaviyā ayaṃ maṇḍo, orohitvā namo karohi.
Of this earth, bounded by the ocean, fertile, the supporter of all beings, this is the essential place. Descend and pay homage.
Phần tinh túy này của quả đất, có biển cả làm giới hạn, màu mỡ, nâng đỡ tất cả chúng sanh; hãy đi xuống và đảnh lễ.
72.
72.
72.
Ye te bhavanti nāgā ca, abhijātā ca kuñjarā;
Ettāvatā padesaṃ te, nāgā neva mupayanti.
Whatever high-born elephants there are, of the kuñjara breed, those elephants cannot approach even this much of the region.
Những con voi nào thuộc dòng dõi cao quý, những con voi rừng; những con voi ấy không thể nào đi đến gần một nơi như thế này.
73.
73.
73.
Abhijāto nāgo † kāmaṃ, pesehi kuñjaraṃ dantiṃ;
Ettāvatā padeso †, sakkā † nāgena mupagantuṃ.
Though you have a high-born elephant, by all means, urge on the tusked kuñjara. It is not possible for the elephant to approach even this much of the region.
Cứ việc thúc giục con voi rừng có ngà, thuộc dòng dõi cao quý; con voi ấy không thể đi đến gần một nơi như thế này.
74.
74.
74.
Taṃ sutvā rājā kāliṅgo, veyyañjanikavaco nisāmetvā;
Sampesesi nāgaṃ ñassāma, mayaṃ yathimassidaṃ † vacanaṃ.
Having heard that, King Kāliṅga, heeding the words of the expert, urged on the elephant, thinking, ‘We shall know if these words of his are so.’
Nghe điều ấy, vua Kāliṅga, sau khi xem xét lời của nhà ngữ pháp, đã thúc giục con voi (và nói): 'Chúng ta sẽ biết lời này của vị ấy có đúng như vậy không.'
75.
75.
75.
Sampesito ca raññā, nāgo koñcova abhinaditvāna;
Paṭisakkitvā † nisīdi, garuṃva bhāraṃ asahamāno.
Urged on by the king, the elephant, having trumpeted loudly like a crane, drew back and sat down, as if unable to bear a heavy burden.
Và con voi, bị nhà vua thúc giục, đã rống lên như tiếng chim hạc, rồi lùi lại và ngồi xuống, như không thể chịu đựng được gánh nặng.
76.
76.
76.
Kāliṅgabhāradvājo, nāgaṃ khīṇāyukaṃ viditvāna;
Rājānaṃ kāliṅgaṃ, taramāno ajjhabhāsittha;
Aññaṃ saṅkama nāgaṃ, nāgo khīṇāyuko mahārāja.
Kāliṅga Bhāradvāja, knowing that the elephant's life was exhausted, hastening, addressed King Kāliṅga: 'Change to another elephant, O great king, this elephant's life is at an end.'
Kāliṅgabhāradvāja, biết rằng con voi đã tận số, vội vàng tâu với vua Kāliṅga rằng: 'Tâu đại vương, con voi đã tận số, xin hãy đổi sang con voi khác.'
77.
77.
77.
Taṃ sutvā kāliṅgo, taramāno saṅkamī nāgaṃ;
Saṅkanteva raññe, nāgo tattheva pati † bhumyā;
Veyyañjanikavaco, yathā tathā ahu nāgo.
Hearing that, King Kāliṅga, hastening, changed to another elephant. As soon as the king had changed over, the elephant fell to the ground right there. It happened to the elephant just as the expert had said.
Nghe điều ấy, vua Kāliṅga vội vàng đổi sang con voi khác. Ngay khi nhà vua vừa đổi xong, con voi đã ngã xuống đất ngay tại chỗ. Con voi đã xảy ra đúng như lời của nhà ngữ pháp.
78.
78.
78.
Kāliṅgo rājā kāliṅgaṃ, brāhmaṇaṃ etadavoca;
Tvameva asi sambuddho, sabbaññū sabbadassāvī.
King Kāliṅga said this to the Kāliṅga brahmin: ‘You yourself are the fully enlightened one, the all-knowing, the all-seeing.’”
Vua Kāliṅga đã nói lời này với vị Bà-la-môn Kāliṅga: 'Chính ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Toàn Tri, bậc Toàn Kiến.'
79.
79.
79.
Taṃ anadhivāsento kāliṅgaṃ †, brāhmaṇo idamavoca;
Veyyañjanikā hi mayaṃ, buddhā sabbaññuno mahārāja.
Not enduring that, the brahmin said this to King Kāliṅga: ‘We are merely experts in signs, O great king; it is the Buddhas who are all-knowing.’
Không chấp nhận điều đó, vị Bà-la-môn đã nói lời này với vua Kāliṅga: 'Tâu đại vương, chúng tôi chỉ là những nhà ngữ pháp, chư Phật mới là bậc Toàn Tri.'
80.
80.
80.
Sabbaññū sabbavidū ca, buddhā na lakkhaṇena jānanti;
Āgamabalasā † hi mayaṃ, buddhā sabbaṃ pajānanti.
The Buddhas are all-knowing and all-discerning; they do not know by means of signs. We know by the power of tradition, whereas the Buddhas thoroughly know all things.
Chư Phật là bậc Toàn Tri, bậc Toàn Giác, các Ngài không biết thông qua tướng pháp. Chúng tôi biết là nhờ vào sức mạnh của kinh điển truyền thừa, còn chư Phật thì biết rõ tất cả mọi sự.
81.
81.
81.
Mahayitvā sambodhiṃ †, nānāturiyehi vajjamānehi;
Mālāvilepanaṃ abhiharitvā † atha rājā manupāyāsi †.
Having honored the great enlightenment with various musical instruments being played, and having offered garlands and unguents, the king then departed.
Sau khi cúng dường cây Bồ-đề với nhiều loại nhạc cụ được tấu lên, sau khi dâng cúng vòng hoa và hương liệu, rồi nhà vua đã ra đi.
82.
82.
82.
Saṭṭhi vāhasahassāni, pupphānaṃ sannipātayi;
Pūjesi rājā kāliṅgo, bodhimaṇḍamanuttaranti †.
Sixty thousand cartloads of flowers he gathered; King Kāliṅga honored the unsurpassed Bodhi-maṇḍala.
Sáu mươi ngàn xe hoa đã được tập hợp lại; vua Kāliṅga đã cúng dường Bồ-đề đoàn tràng vô thượng.
Kāliṅgabodhijātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Kāliṅgabodhi Jātaka, the sixth.
Chuyện Bổn Sanh Kāliṅgabodhi, thứ sáu.