Bản dịch
JA 478 — Chuyện Sứ Thần (Tiền thân Dùta)
5. Dūtajātaka
1835. “Này vị Bà-la-môn, trẫm đã phái các sứ giả đến gặp ngài, lúc ngài đang trầm tư ở bờ sông Gaṅgā. Được hỏi, ngài đã không trả lời chúng. Có phải nỗi khổ mà ngài giấu kín đã được thấu hiểu?”
1836. “Tâu bậc làm hưng thịnh xứ sở Kāsi, nếu nỗi khổ của bệ hạ sanh khởi, bệ hạ chớ nói ra điều ấy đến kẻ không có thể giúp cho bệ hạ thoát khỏi nỗi khổ.
1837. Trong số những người đang nói, người nào có thể tháo gỡ đúng theo pháp dầu chỉ một phần của nỗi khổ đã được sanh lên ấy, thì bệ hạ nên thổ lộ điều mong muốn với người ấy.
1838. Tiếng kêu của những con chó rừng và của những con chim còn dễ hiểu, tiếng kêu của con người, tâu bệ hạ, lại khó hiểu hơn tiếng kêu kia.
1839. Thậm chí, nếu nghĩ rằng kẻ nào trước đây đã có thiện ý là: ‘Thân quyến, bạn bè, hoặc thân hữu,’ rồi về sau có sự thù nghịch xảy đến.
1840. Kẻ nào, khi không được gặn hỏi về nỗi khổ của bản thân, lại thổ lộ cho mọi người vào thời điểm không phù hợp, những ai vui mừng là những kẻ thù nghịch của kẻ ấy, những ai có sự sầu khổ của kẻ ấy là những bậc ân nhân.
1841. Và sau khi biết về thời điểm, sau khi biết được bậc thông minh có đồng tâm ý, vị sáng trí nên tỏ bày những nỗi đớn đau đến kẻ khác thuộc hạng người như thế ấy, và nên thốt ra giọng nói mềm mỏng, có ý nghĩa.
1842. Và nếu biết được việc của bản thân là không thể sửa đổi (nghĩ rằng): ‘Giải pháp này không đem đến an lạc cho ta,’ vị sáng trí nên chịu đựng các nỗi đớn đau thậm chí một mình, trong khi xem xét sự thật với sự hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi.
1843. Tâu đại vương, trong khi lang thang đến các xứ sở, các thị trấn, các kinh thành, trong khi xin ăn, thần có ý định tìm kiếm tài sản để dâng đến vị thầy dạy học.
1844. Là người gia chủ, tâu quân vương, thần đã nhận được ở người của hoàng gia, ở người giàu có, và ở vị Bà-la-môn bảy thỏi tiền vàng. Tâu đại vương, các thỏi tiền ấy của thần đã bị đánh rơi; vì thế thần sầu muộn vô cùng.
1845. Tâu đại vương, những người sứ giả ấy, khi đã được suy xét bằng tâm, thì họ không đủ khả năng giúp cho thoát khỏi nỗi khổ; vì thế, thần đã không bày tỏ với họ.
1846. Tâu đại vương, còn bệ hạ, quả thật đối với thần, khi đã được suy xét bằng tâm, thì bệ hạ có đủ khả năng giúp cho thoát khỏi nỗi khổ; vì thế, thần đã thổ lộ với bệ hạ.”
1847. “Với bản ngã được hoan hỷ, vị làm hưng thịnh xứ sở Kāsi đã ban cho người ấy mười bốn thỏi tiền vàng làm bằng vàng ròng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sace te dukkhamuppajje, kāsīnaṃ raṭṭhavaḍḍhana;
Mā kho naṃ tassa akkhāhi, yo taṃ dukkhā na mocaye.
O promoter of the Kāsi kingdom, if suffering should arise for you, do not tell it to one who cannot free you from that suffering.
Này đấng làm hưng thịnh xứ Kāsī, nếu ngài có nỗi khổ khởi lên, xin chớ kể điều ấy cho người nào không thể giải thoát ngài khỏi nỗi khổ đó.
56.
56.
56.
Yo tassa † dukkhajātassa, ekaṅgamapi bhāgaso †;
Vippamoceyya dhammena, kāmaṃ tassa pavedaya †.
But whoever could righteously relieve even a single part of that arisen suffering—to him you may certainly declare it.
Người nào có thể giải thoát, một cách hợp pháp, dù chỉ là một phần của nỗi khổ đã phát sinh ấy, ngài hãy cứ tùy ý thổ lộ với người đó.
57.
57.
57.
Suvijānaṃ siṅgālānaṃ, sakuṇānañca vassitaṃ;
Manussavassitaṃ rāja, dubbijānataraṃ tato.
The cry of jackals and the calls of birds are easy to understand; but the speech of humans, O king, is far harder to understand than that.
Tiếng kêu của loài chó rừng và của các loài chim thì dễ biết. Tâu đại vương, lời nói của con người còn khó biết hơn thế.
58.
58.
58.
Api ce maññatī poso, ñāti mitto sakhāti vā;
Yo pubbe sumano hutvā, pacchā sampajjate diso.
Even one whom a person might consider a kinsman, a friend, or a companion—one who was formerly well-disposed can later become an enemy.
Ngay cả khi một người được xem là bà con, là bạn bè, hay là thân hữu, người mà trước kia có thiện cảm, về sau lại có thể trở thành kẻ thù.
59.
59.
59.
Yo attano dukkhamanānupuṭṭho, pavedaye jantu akālarūpe;
Ānandino tassa bhavantimittā †, hitesino tassa dukhī bhavanti.
The person who, unasked and at an improper time, declares their own suffering—their enemies become joyful, while their well-wishers become sorrowful.
Người nào không được hỏi mà lại thổ lộ nỗi khổ của mình không đúng lúc, thì kẻ thù của người ấy sẽ vui mừng, còn những người mong muốn lợi ích cho người ấy lại trở nên đau khổ.
60.
60.
60.
Kālañca ñatvāna tathāvidhassa, medhāvīnaṃ ekamanaṃ viditvā;
Akkheyya tibbāni † parassa dhīro, saṇhaṃ giraṃ atthavatiṃ pamuñce.
Knowing the right time, and having understood a wise person to be of like mind, a steadfast person may tell their intense sufferings to another, uttering gentle and meaningful speech.
Sau khi biết đúng thời điểm và nhận ra người có trí tuệ cùng chung tâm tư, bậc hiền trí có thể kể cho người khác nghe những nỗi khổ đau cùng cực của mình, và nên thốt ra lời nói nhẹ nhàng, có ý nghĩa.
61.
61.
61.
Sace ca jaññā avisayhamattano, na te hi mayhaṃ † sukhāgamāya;
Ekova tibbāni saheyya dhīro, saccaṃ hirottappamapekkhamāno.
And if one should know one's suffering to be irremediable, reflecting, 'These things are not for my happiness,' the steadfast person, alone, should endure what is intense, having regard for truth, moral shame, and fear of wrongdoing.
Và nếu biết rằng nỗi khổ của mình là không thể chịu đựng nổi, và rằng những điều ấy không phải để mang lại hạnh phúc cho mình, bậc hiền trí nên một mình chịu đựng những nỗi khổ đau cùng cực, trong khi vẫn xem trọng sự thật, lòng tàm và quý.
62.
62.
62.
Ahaṃ raṭṭhāni vicaranto, nigame rājadhāniyo;
Bhikkhamāno mahārāja, ācariyassa dhanatthiko.
O great king, desiring wealth for my teacher, I went about begging, wandering through kingdoms, towns, and royal cities.
Tâu đại vương, con đã đi khắp các xứ, các thị trấn, các kinh thành, để khất thực, vì mong muốn có được tài sản cho vị thầy của con.
63.
63.
63.
Gahapatī rājapurise, mahāsāle ca brāhmaṇe;
Alatthaṃ satta nikkhāni, suvaṇṇassa janādhipa;
Te me naṭṭhā mahārāja, tasmā socāmahaṃ bhusaṃ.
From householders, royal men, and wealthy brahmins, I obtained seven nikkhas of gold, O lord of men. Those have been lost, O great king; therefore, I grieve intensely.
(Con đã khất thực từ) các gia chủ, các quan chức hoàng gia, và các vị Bà-la-môn giàu có. Tâu đấng nhân chủ, con đã nhận được bảy nिक्ख (nikkha) vàng. Tâu đại vương, chúng đã bị con làm mất, vì thế con vô cùng sầu muộn.
64.
64.
64.
Purisā te mahārāja, manasānuvicintitā;
Nālaṃ dukkhā pamocetuṃ, tasmā tesaṃ na byāhariṃ.
Your men, O great king, were considered in my mind. They are not able to free me from suffering; therefore, I did not speak to them.
Tâu đại vương, con đã suy xét trong tâm về các thuộc hạ của ngài. Họ không thể giải thoát con khỏi nỗi khổ, vì thế con đã không nói với họ.
65.
65.
65.
Tvañca kho me mahārāja, manasānuvicintito;
Alaṃ dukkhā pamocetuṃ, tasmā tuyhaṃ pavedayiṃ.
But you, O great king, were considered in my mind. You are able to free me from suffering; therefore, I have declared it to you.
Nhưng tâu đại vương, con đã suy xét trong tâm về ngài. Ngài có thể giải thoát con khỏi nỗi khổ, vì thế con đã thổ lộ với ngài.
66.
66.
66.
Tassādāsi pasannatto, kāsīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Jātarūpamaye nikkhe, suvaṇṇassa catuddasāti.
Then the promoter of the Kāsi kingdom, with a pleased mind, gave to him fourteen nikkhas of gold, made of wrought gold.
Với tâm hoan hỷ, vị vua làm hưng thịnh xứ Kāsī đã ban cho vị ấy mười bốn nिक्ख (nikkha) làm bằng vàng ròng.
Dūtajātakaṃ pañcamaṃ.
The Dūta Jātaka, the fifth.
Chuyện Bổn Sanh Dūta, phần thứ năm.