Bản dịch
JA 476 — Chuyện Chúa Thiên Nga Có Thần Tốc (Tiền thân Javana-Hamsa)
3. Javanahaṁsajātaka
1808. “Thưa chim thiên nga, xin chim hãy đáp xuống ở ngay đây. Sự xuất hiện của chim được trẫm yêu thích. Chim là vị chúa tể vừa mới ngự đến. Có điều gì ở đây (khiến chim lo ngại), xin chim cho biết.
1809. Do việc nghe tiếng mà hình thành các sự yêu mến đối với một người. Tuy nhiên, sau khi nhìn thấy khiến sự mong muốn đối với một người tiêu tan. Các sự yêu mến hình thành sau khi nhìn thấy và nghe tiếng, phải chăng chim được trẫm yêu mến do việc nhìn thấy?
1810. Chim được trẫm yêu mến do việc nghe tiếng, và thêm nữa là việc nhìn thấy sau khi chim đi đến. Thưa chim thiên nga, xin chim hãy sống gần bên trẫm.”
1811. “Chúng tôi có thể ngụ ở căn nhà của bệ hạ, được tôn trọng và được cúng dường thường xuyên. Và một lúc nào đó, bị say sưa bệ hạ có thể nói rằng: ‘Các khanh hãy nấu chín chim thiên nga chúa cho trẫm.’”
1812. “Thật xấu hổ thay nếu cơm ăn nước uống lại được trẫm yêu mến hơn cả chim. Và trẫm cũng sẽ không uống chất say chừng nào chim sẽ còn cư ngụ ở ngôi nhà của trẫm.”
1813. “Tiếng kêu của những con chó rừng và của những con chim còn dễ hiểu, tiếng kêu của con người, tâu bệ hạ, lại khó hiểu hơn tiếng kêu kia.
1814. Thậm chí, nếu nghĩ rằng kẻ nào trước đây đã có thiện ý là: ‘Thân quyến, bạn bè, hoặc thân hữu,’ rồi về sau kẻ ấy trở thành thù nghịch.
1815. Tâm ý gắn bó với người nào thì người ấy không xa cách, mà còn là kề cận. Tâm ý xa lìa kẻ nào, dầu cho kẻ ấy ở gần bên thì cũng sống xa rời.
1816. Ngay khi sống trong nhà, người ấy có tâm tốt lành, thì đi đến bên kia bờ đại dương cũng có tâm tốt lành. Ngay khi sống trong nhà, người nào có tâm tồi bại, thì đi đến bên kia bờ đại dương cũng có tâm tồi bại.
1817. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, những kẻ là thù nghịch, mặc dầu đang sống chung, chúng cũng sống xa rời. Tâu bậc làm hưng thịnh xứ sở, những người đang ở xa nhau, họ sống chung bằng tâm ý.
1818. Do việc trú ngụ quá lâu, người được yêu mến trở thành không được yêu mến. Thậy vậy, hãy để chúng tôi thưa gởi với bệ hạ rồi ra đi, trước khi chúng tôi trở thành những người không được bệ hạ yêu mến.”
1819. “Như vậy, nếu chim không ghi nhận sự chắp tay của những người đang cầu xin chim, chim không thực hiện lời nói của chúng tôi, của những chúng sanh hộ độ chim. Chúng tôi thỉnh cầu chim như vậy, mong chim có thể thực hiện việc đến thăm lần nữa.”
1820. “Như vậy, nếu nguy biến sẽ không xảy đến cho chúng tôi khi đang còn sống, luôn cả cho ngài, tâu đại vương, hoặc cho tôi, tâu bậc làm hưng thịnh đất nước, có lẽ chúng ta sẽ còn gặp lại khi các ngày và đêm trôi qua.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Savanena ekassa piyā bhavanti, disvā panekassa viyeti † chando;
Disvā ca sutvā ca piyā bhavanti, kaccinnu me pīyasi † dassanena.
To some, one becomes dear by hearing of them; but for another, upon seeing them, affection fades. Some become dear by both seeing and hearing of them. I wonder, am I dear to you by sight?
Đối với một số người, (người khác) trở nên thân mến qua việc lắng nghe; nhưng đối với một số người khác, khi nhìn thấy thì lòng yêu mến lại tan biến. (Lại có những người) trở nên thân mến cả khi nhìn thấy và lắng nghe. Phải chăng đối với ngài, tôi có được thân mến qua việc nhìn thấy không?
29.
29.
29.
Savanena piyo mesi, bhiyyo cāgamma dassanaṃ;
Evaṃ piyadassano me †, vasa haṃsa mamantike †.
You were dear to me by hearing of you, and even more so now that you have come into sight. Since you are so pleasant to behold, O goose, dwell here in my presence.
Ngài thân mến với tôi qua việc lắng nghe, và lại càng thân mến hơn khi được nhìn thấy. Vì ngài có dáng vẻ đáng mến như vậy đối với tôi, này hỡi thiên nga, hãy ở lại gần bên tôi.
30.
30.
30.
Vaseyyāma tavāgāre, niccaṃ sakkatapūjitā;
Matto ca ekadā vajje †, ‘‘haṃsarājaṃ pacantu me’’.
We would dwell in your house, always honored and revered. But one day, being intoxicated, you might say: 'Let them cook the goose-king for me!'
Chúng tôi có thể ở lại trong nhà của ngài, luôn được tôn trọng và cúng dường. Nhưng một ngày nào đó, khi say rượu, ngài có thể sẽ nói: 'Hãy nấu thịt vua thiên nga cho ta'.
31.
31.
31.
Dhiratthu taṃ majjapānaṃ, yaṃ me piyataraṃ tayā;
Na cāpi majjaṃ pissāmi †, yāva me vacchasī ghare.
Shame on that drinking of intoxicants, that it should be dearer to me than you! I shall not drink any intoxicant for as long as you dwell in my house.
Thật đáng khinh thay việc uống rượu, nếu nó lại thân thiết với tôi hơn cả ngài! Tôi sẽ không uống rượu, chừng nào ngài còn ở trong nhà của tôi.
32.
32.
32.
Suvijānaṃ siṅgālānaṃ, sakuṇānañca † vassitaṃ;
Manussavassitaṃ rāja, dubbijānataraṃ tato.
The cry of jackals and of birds is easy to understand; but the speech of humans, O king, is far more difficult to understand than that.
Tiếng kêu của loài dã can và của các loài chim thì dễ biết. Tâu đại vương, lời nói của con người còn khó biết hơn thế nữa.
33.
33.
33.
Api ce maññatī poso, ñāti mitto sakhāti vā;
Yo pubbe sumano hutvā, pacchā sampajjate diso.
A person who was formerly well-disposed, one might think of as 'kinsman,' 'friend,' or 'companion'; yet later, that same person can become a foe.
Dù cho một người có thể nghĩ rằng: 'Đây là bà con, là bạn bè, hay là người đồng hành của ta'. Người mà trước kia có thiện cảm, về sau lại trở thành kẻ thù.
34.
34.
34.
Yasmiṃ mano nivisati, avidūre sahāpi so;
Santikepi hi so dūre, yasmiṃ nāvisate † mano.
One in whom the mind settles, even if far, is indeed close by. One in whom the mind does not settle, even if close by, is indeed far away.
Người nào mà tâm ý hướng về, người ấy dù ở xa cũng (xem như) ở gần. Người nào mà tâm ý không hướng về, người ấy dù ở gần cũng (xem như) ở xa.
35.
35.
35.
Antopi so hoti pasannacitto, pāraṃ samuddassa pasannacitto;
Antopi so hoti paduṭṭhacitto, pāraṃ samuddassa paduṭṭhacitto.
One with a serene mind, though on the far shore of the ocean, is as if within. One with a corrupt mind, though within, is as if on the far shore of the ocean.
Người có tâm tịnh tín, dù ở bên kia bờ đại dương, cũng (xem như) ở bên trong. Người có tâm ô nhiễm, dù ở bên trong, cũng (xem như) ở bên kia bờ đại dương.
36.
36.
36.
Saṃvasantā vivasanti, ye disā te rathesabha;
Ārā santo saṃvasanti, manasā raṭṭhavaḍḍhana.
Those who are foes, though living together, live apart, O lord of charioteers. The virtuous, though far apart, live together in mind, O increaser of the kingdom.
Này hỡi bậc xa chủ, những kẻ là thù địch, dù sống chung với nhau nhưng vẫn là sống riêng rẽ. Này hỡi bậc làm hưng thịnh quốc độ, những người hiền thiện, dù ở xa, vẫn sống chung với nhau bằng tâm ý.
37.
37.
37.
Aticiraṃ nivāsena, piyo bhavati appiyo;
Āmanta kho taṃ gacchāma †, purā te homa appiyā †.
By dwelling for too long, a dear one becomes undear. We now take our leave of you and shall go, before we become undear to you.
Do chung sống quá lâu, người thân mến trở thành người không được ưa thích. Chúng tôi xin cáo từ ngài để ra đi, trước khi chúng tôi trở nên không được ngài ưa thích.
38.
38.
38.
Evaṃ ce yācamānānaṃ, añjaliṃ nāvabujjhasi;
Paricārakānaṃ sataṃ †, vacanaṃ na karosi no;
Evaṃ taṃ abhiyācāma, puna kayirāsi pariyāyaṃ.
If you do not heed the folded hands of us who entreat you thus, if you do not follow the word of us who are your attendants, then we implore you: may you make a return visit again.
Nếu ngài không hiểu được cử chỉ chắp tay của chúng tôi đang van nài như vậy, nếu ngài không làm theo lời của chúng tôi, những người hầu cận của ngài, thì chúng tôi xin khẩn khoản ngài, xin hãy trở lại viếng thăm một lần nữa.
39.
39.
39.
Evaṃ ce no viharataṃ, antarāyo na hessati;
Tuyhañcāpi † mahārāja, mayhañca † raṭṭhavaḍḍhana;
Appeva nāma passemu †, ahoratānamaccayeti.
If, as we go on living, no obstacle should befall either you, O great king, or me, O increaser of the kingdom, then perhaps, with the passing of days and nights, we may see each other again.
Nếu trong khi chúng ta đang sống như vậy, không có chướng ngại nào xảy đến, cho cả ngài, tâu đại vương, và cho cả tôi, hỡi bậc làm hưng thịnh quốc độ, thì có lẽ chúng ta sẽ gặp lại nhau sau khi ngày đêm trôi qua.
Javanahaṃsajātakaṃ tatiyaṃ.
The Javanahaṃsa Jātaka, the Third.
Bổn sanh Javanahamsa, câu chuyện thứ ba.
477. Cūḷanāradajātakaṃ (4)
477. The Cūḷanārada Jātaka, the Fourth.
477. Bổn sanh Culanarada (4)
40.
40.
40.
Na te kaṭṭhāni bhinnāni, na te udakamābhataṃ;
Aggīpi te na hāpito †, kiṃ nu mandova jhāyasi.
Your firewood is not split, your water is not fetched, and your fire is not kindled. Why do you brood as if you were dull-witted?
Con chưa chẻ củi, con chưa lấy nước, con cũng chưa nhóm lửa. Tại sao con lại ngồi trầm tư như kẻ ngốc vậy?
41.
41.
41.
478. Dūtajātakaṃ (5)
478. The Dūta Jātaka (5)
478. Chuyện Bổn Sanh Dūta (5)
54.
54.
54.
Dūte te brahme † pāhesiṃ, gaṅgātīrasmi jhāyato;
Tesaṃ puṭṭho na byākāsi, dukkhaṃ guyhamataṃ † nu te.
O brahmin, I sent messengers to you as you were brooding on the bank of the Ganges. Though asked by them, you did not speak. Is your suffering a secret known only to you?
Này vị Bà-la-môn, ta đã sai các sứ giả đến với ông, khi ông đang thiền định bên bờ sông Hằng. Khi được họ hỏi, ông đã không trả lời. Phải chăng nỗi khổ của ông là điều bí mật?
55.
55.
55.