Bản dịch
JA 470 — Chuyện Phú Ông Keo Kiệt (Tiền thân Kosiya)
7. Kosiyajātaka
1722. “Ta chẳng những không mua, cũng không bán. Thậm chí, sự tích lũy của ta cũng không có. Thật vậy, phần có được vô cùng khó khăn này là ít ỏi. Lượng cơm này không đủ cho hai người.”
1723. “Có chút ít thì nên bố thí chút ít, có vừa phải nên bố thí vừa phải, có nhiều nên bố thí nhiều, không bố thí là không thích đáng.
1724. Này Kosiya, ta nói với ông về điều ấy. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy thọ hưởng. Ông hãy bước lên đạo lộ thánh thiện; kẻ ăn một mình không thể đạt được hạnh phúc.”
1725. “Người nào một mình hưởng thụ bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), sự cúng tế của người này là vô ích, luôn cả việc nỗ lực (về tài sản) cũng là vô ích.
1726. Này Kosiya, ta nói với ông về điều ấy. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy thọ hưởng. Ông hãy bước lên đạo lộ thánh thiện; kẻ ăn một mình không thể đạt được hạnh phúc.”
1727. “Người nào không một mình hưởng thụ bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), sự cúng tế của người ấy là sự thật, luôn cả việc nỗ lực (về tài sản) cũng là sự thật.
1728. Này Kosiya, ta nói với ông về điều ấy. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy thọ hưởng. Ông hãy bước lên đạo lộ thánh thiện; kẻ ăn một mình không thể đạt được hạnh phúc.”
1729. “Người cúng tế ở hồ nước, và ở nhiều nơi, ở Gayā, ở Doṇa, ở bến nước Timbaru, ở dòng nước chảy xiết, ở sông lớn.
1730. Sự cúng tế của người này là ở đây, luôn cả việc nỗ lực (về tài sản) cũng là ở đây. Người này không một mình hưởng thụ bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước).
1731. Này Kosiya, ta nói với ông về điều ấy. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy thọ hưởng. Ông hãy bước lên đạo lộ thánh thiện; kẻ ăn một mình không thể đạt được hạnh phúc.”
1732. “Người nào một mình hưởng thụ bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), kẻ ấy nuốt phải lưỡi câu có sợi cước dài, có sự trói buộc.
1733. Này Kosiya, ta nói với ông về điều ấy. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy thọ hưởng. Ông hãy bước lên đạo lộ thánh thiện; kẻ ăn một mình không thể đạt được hạnh phúc.”
1734. “Thật vậy, các vị Bà-la-môn này có màu sắc cao quý. Và đây là con chó của các ngài, nguyên nhân là thế nào? Nó biến hóa thành cao, thấp, có màu sắc và ánh sáng. Thưa các vị Bà-la-môn, xin các ngài hãy nói cho chúng tôi, các ngài là những người nào vậy?”
1735. “Canda và Suriya, cả hai đã đi đến nơi này. Còn đây là Mātali, người điều khiển Thiên xa. Ta là Sakka, Chúa của cõi Tam Thập. Và vị kia được gọi là Pañcasikha.
1736. Các điệu nhạc, các trống nhỏ, các trống một mặt, và các trống lớn đánh thức người đang ngủ ấy. Và người ấy vui mừng khi được thức tỉnh.
1737. Những người nào là những người bỏn xẻn, keo kiệt, những kẻ mắng nhiếc các vị Sa- môn và Bà-la-môn, thì ngay ở nơi này, sau khi rời bỏ cơ thể thân xác, d0 sự hoại rã của thân, chúng di chuyển đến địa ngục.
1738. Những người nào là những người đang mong mỏi cõi Trời, đứng vững ở đạo đức, ở sự tự chế ngự, và ở sự san sẻ, thì ngay ở nơi này, sau khi rời bỏ cơ thể thân xác, d0 sự hoại rã của thân, chúng di chuyển đến chốn an vui.
1739. Ông là thân quyến của chúng tôi ở những kiếp sống trước. Ông đây bỏn xẻn, giận dữ, có bản chất ác độc. Vì lợi ích cho chính ông mà chúng tôi đã đi đến nơi này. Mong sao cho kẻ có bản chất ác độc chớ đọa vào địa ngục.”
1740. “Các ngài quả thật là những người mong muốn điều lợi ích cho tôi, nên các ngài mới chỉ dạy cho tôi. Tôi đây sẽ thực hành đúng theo mọi điều đã được nói ra bởi các bậc hữu ân.
1741. Ngay từ hôm nay, tôi đây ngưng hẳn. Tôi cũng không làm bất cứ điều gì ác độc, cũng không có bất cứ cái gì mà tôi không thể bố thí, và tôi cũng không thể uống nước sau khi tôi chưa bố thí.
1742. Và trong khi tôi bố thí vào mọi lúc như vậy, thưa vị chúa của chư Thiên, các của cải này sẽ cạn kiệt. Kế đó, tôi sẽ xuất gia, thưa Thiên chủ Sakka, sau khi tôi từ bỏ các dục tùy theo mức giới hạn (của chúng).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Neva kiṇāmi napi vikkiṇāmi, na cāpi me sannicayo ca atthi †;
Sukiccharūpaṃ vatidaṃ parittaṃ, patthodano nālamayaṃ duvinnaṃ’’.
I neither buy nor do I sell, nor is there any store of it for me. This was obtained with great difficulty and is but a small amount; this measure of rice is not enough for the two of us.
Ta không mua cũng không bán, và ta cũng không có tích trữ; thật khó khăn để có được món này, và nó lại rất ít, chỉ một đấu cơm này không đủ cho hai chúng ta.
193.
193.
193.
‘‘Appamhā appakaṃ dajjā, anumajjhato majjhakaṃ;
Bahumhā bahukaṃ dajjā, adānaṃ nupapajjati †.
From a little, one should give a little; from a moderate amount, a moderate amount; from much, one should give much. Not to give is not proper.
Từ cái ít, nên cho một ít; từ cái vừa, nên cho một phần vừa; từ cái nhiều, nên cho nhiều; không bố thí là điều không nên làm.
194.
194.
194.
‘‘Taṃ taṃ vadāmi kosiya, dehi dānāni bhuñja ca;
Ariyamaggaṃ samārūha †, nekāsī labhate sukhaṃ’’.
Therefore I say to you, Kosiya: give gifts and also partake. Ascend the Noble Path; one who does not eat alone finds happiness.
Này Kosiya, vì thế ta nói với ngươi: Hãy bố thí và hãy hưởng dụng. Hãy đi lên con đường của bậc Thánh, người ăn một mình không có được hạnh phúc.
195.
195.
195.
‘‘Moghañcassa hutaṃ hoti, moghañcāpi samīhitaṃ;
Atithismiṃ yo nisinnasmiṃ, eko bhuñjati bhojanaṃ.
For one who eats a meal alone while a guest is seated, their offering is in vain, and their striving is also in vain.
Sự cúng dường của người ấy trở thành vô ích, và sự nỗ lực cũng trở thành vô ích, đối với người nào trong khi có khách đang ngồi, lại một mình ăn vật thực.
196.
196.
196.
‘‘Taṃ taṃ vadāmi kosiya, dehi dānāni bhuñja ca;
Ariyamaggaṃ samārūha, nekāsī labhate sukhaṃ’’.
Therefore I say to you, Kosiya: give gifts and also partake. Ascend the Noble Path; one who does not eat alone finds happiness.
Này Kosiya, vì thế ta nói với ngươi: Hãy bố thí và hãy hưởng dụng. Hãy đi lên con đường của bậc Thánh, người ăn một mình không có được hạnh phúc.
197.
197.
197.
‘‘Saccañcassa hutaṃ hoti, saccañcāpi samīhitaṃ;
Atithismiṃ yo nisinnasmiṃ, neko bhuñjati bhojanaṃ.
For one who does not eat a meal alone while a guest is seated, their offering is true, and their striving is also true.
Sự cúng dường của người ấy trở thành chân thật, và sự nỗ lực cũng trở thành chân thật, đối với người nào trong khi có khách đang ngồi, không ăn vật thực một mình.
198.
198.
198.
‘‘Taṃ taṃ vadāmi kosiya, dehi dānāni bhuñja ca;
Ariyamaggaṃ samārūha, nekāsī labhate sukhaṃ’’.
Therefore I say to you, Kosiya: give gifts and also partake. Ascend the Noble Path; one who does not eat alone finds happiness.
Này Kosiya, vì thế ta nói với ngươi: Hãy bố thí và hãy hưởng dụng. Hãy đi lên con đường của bậc Thánh, người ăn một mình không có được hạnh phúc.
199.
199.
199.
‘‘Sarañca juhati poso, bahukāya gayāya ca;
Doṇe timbarutitthasmiṃ, sīghasote mahāvahe.
A person may make offerings at the lake, at the Bahukā river, and at Gayā; at Doṇa, at the Timbaru ford, and in the swift-flowing great river.
Chúng sanh cúng tế ở hồ nước, ở sông Bahukā và Gayā, ở bến Doṇa, ở bến Timbarutittha, ở dòng sông lớn chảy xiết.
200.
200.
200.
‘‘Atra cassa hutaṃ hoti, atra cassa samīhitaṃ;
Atithismiṃ yo nisinnasmiṃ, neko bhuñjati bhojanaṃ.
For one who does not eat a meal alone while a guest is seated—herein lies their true offering, herein lies their true striving.
Sự cúng tế của người ấy được thành tựu ở đây, và sự nỗ lực của người ấy được thành tựu ở đây, đối với người nào trong khi có khách đang ngồi, không ăn vật thực một mình.
201.
201.
201.
‘‘Taṃ taṃ vadāmi kosiya, dehi dānāni bhuñja ca;
Ariyamaggaṃ samārūha, nekāsī labhate sukhaṃ’’.
Therefore I say to you, Kosiya: give gifts and also partake. Ascend the Noble Path; one who does not eat alone finds happiness.
Này Kosiya, vì thế ta nói với ngươi: Hãy bố thí và hãy hưởng dụng. Hãy đi lên con đường của bậc Thánh, người ăn một mình không có được hạnh phúc.
202.
202.
202.
‘‘Baḷisañhi so nigilati †, dīghasuttaṃ sabandhanaṃ;
Atithismiṃ yo nisinnasmiṃ, eko bhuñjati bhojanaṃ.
For one who eats a meal alone while a guest is present is like one who swallows a fish-hook, complete with its long line and binding.
Người ấy quả thật nuốt lưỡi câu có dây dài và có móc, người nào trong khi có khách đang ngồi, lại một mình ăn vật thực.
203.
203.
203.
‘‘Taṃ taṃ vadāmi kosiya, dehi dānāni bhuñja ca;
Ariyamaggaṃ samārūha, nekāsī labhate sukhaṃ’’.
Therefore I say to you, Kosiya: give gifts and also partake. Ascend the Noble Path; one who does not eat alone finds happiness.
Này Kosiya, vì thế ta nói với ngươi: Hãy bố thí và hãy hưởng dụng. Hãy đi lên con đường của bậc Thánh, người ăn một mình không có được hạnh phúc.
204.
204.
204.
‘‘Uḷāravaṇṇā vata brāhmaṇā ime, ayañca vo sunakho kissa hetu;
Uccāvacaṃ vaṇṇanibhaṃ vikubbati, akkhātha no brāhmaṇā ke nu tumhe’’.
How magnificent is the complexion of these brahmins! And this dog of yours—for what reason does it manifest such varied hues and appearances? Tell us, O brahmins, who are you?
Ôi, những vị Bà-la-môn này có sắc tướng thật tuyệt vời! Còn con chó này của các ngài, vì lý do gì lại biến hóa thành các màu sắc cao thấp khác nhau? Hỡi các vị Bà-la-môn, hãy nói cho chúng tôi biết, các ngài là ai vậy?
205.
205.
205.
‘‘Cando ca sūriyo ca † ubho idhāgatā, ayaṃ pana mātali devasārathi;
Sakkohamasmi tidasānamindo, eso ca kho pañcasikhoti vuccati.
The Moon and the Sun have both come here. This one is Mātali, the divine charioteer. I am Sakka, lord of the Thirty-three gods, and that one is called Pañcasikha.
Cả thiên tử Mặt Trăng và thiên tử Mặt Trời, cả hai vị đã đến đây. Vị này là Mātali, người đánh xe của chư thiên. Ta là Sakka, vua của chư thiên Ba Mươi Ba, còn vị kia được gọi là Pañcasikha.
206.
206.
206.
‘‘Pāṇissarā mudiṅgā ca †, murajālambarāni ca;
Suttamenaṃ pabodhenti, paṭibuddho ca nandati’’.
The sounds of cymbals and Mudiṅga drums, of Muraja and Ālambara tabors, awaken him from sleep; and being awakened, he rejoices.
Tiếng vỗ tay, trống mudiṅga, trống muraja, và trống āḷambara, chúng đánh thức ta đang ngủ, và khi đã thức dậy, ta vui thích.
207.
207.
207.
‘‘Ye kecime maccharino kadariyā, paribhāsakā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Idheva nikkhippa sarīradehaṃ, kāyassa bhedā nirayaṃ vajanti’’.
Whoever is stingy and miserly, who reviles ascetics and brahmins, having laid down this bodily frame right here, at the breaking up of the body, they go to hell.
Bất cứ những ai là người keo kiệt, bủn xỉn, những người phỉ báng Sa-môn, Bà-la-môn, ngay tại đây, sau khi từ bỏ thân xác này, sau khi thân hoại, họ đi về địa ngục.
208.
208.
208.
‘‘Ye kecime suggatimāsamānā †, dhamme ṭhitā saṃyame saṃvibhāge;
Idheva nikkhippa sarīradehaṃ, kāyassa bhedā sugatiṃ vajanti’’.
Whoever, aspiring to a good destination, is established in the Dhamma, in restraint, and in sharing, having laid down this bodily frame right here, at the breaking up of the body, they go to a good destination.
Bất cứ những ai mong cầu thiện thú, an trú trong Pháp, trong sự thu thúc và trong sự chia sẻ, ngay tại đây, sau khi từ bỏ thân xác này, sau khi thân hoại, họ đi về thiện thú.
209.
209.
209.
‘‘Tvaṃ nosi ñāti purimāsu jātisu, so maccharī rosako † pāpadhammo;
Taveva atthāya idhāgatamhā, mā pāpadhammo nirayaṃ gamittha’’ †.
You were our kinsman in former births; that one is stingy, irascible, and of evil nature. We have come here for your own benefit; may you, of evil nature, not go to hell.
Trong các kiếp trước, ngươi là quyến thuộc của chúng ta. Ngươi đó là người keo kiệt, hay sân hận, có ác pháp. Chúng ta đã đến đây vì lợi ích của chính ngươi. Mong rằng ngươi, người có ác pháp, sẽ không đi đến địa ngục.
210.
210.
210.
‘‘Addhā hi maṃ vo hitakāmā, yaṃ maṃ samanusāsatha;
Sohaṃ tathā karissāmi, sabbaṃ vuttaṃ hitesibhi.
Indeed, you are my well-wishers, in that you instruct me. I will do accordingly, all that is said by those who wish me well.
Chắc chắn các ngài mong muốn lợi ích cho tôi, vì các ngài đã giáo huấn tôi. Do vậy, tôi sẽ làm theo như vậy, tất cả những gì đã được nói bởi các vị mong cầu lợi ích.
211.
211.
211.
‘‘Esāhamajjeva upāramāmi, na cāpihaṃ † kiñci kareyya pāpaṃ;
Na cāpi me kiñci adeyyamatthi, na cāpidatvā udakaṃ pivāmi †.
From this very day I shall cease, nor shall I do any evil. There is nothing of mine that is not to be given, nor do I drink water without having given.
Tôi đây, ngay hôm nay sẽ từ bỏ tánh keo kiệt. Tôi sẽ không làm bất cứ điều ác nhỏ nào. Đối với tôi, sẽ không có vật gì là không thể cho. Tôi sẽ không uống nước mà không cho đi trước.
212.
212.
212.
‘‘Evañca me dadato sabbakālaṃ †, bhogā ime vāsava khīyissanti;
Tato ahaṃ pabbajissāmi sakka, hitvāna kāmāni yathodhikāni’’.
And as I give in this way at all times, O Vāsava, these riches of mine will be exhausted; then, O Sakka, I will go forth, having abandoned such sensual pleasures as I have.
Hỡi Vāsava, khi tôi bố thí như vậy vào mọi lúc, những tài sản này của tôi sẽ cạn kiệt. Hỡi Sakka, khi đó, sau khi từ bỏ các dục lạc tùy theo khả năng, tôi sẽ xuất gia.