Bản dịch
JA 467 — Chuyện Dục Tham (Tiền thân Kàma)
4. Kāmajātaka
1686. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều con người ước muốn.
1687. Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, từ đó người ấy có các dục nhiều thêm, tựa như người có cơn khát vào mùa nóng nực.
1688. Tựa như loài bò, khi con bò có sừng phát triển (cơ thể) thì cái sừng của nó cũng phát triển; tương tự như vậy, đối với kẻ đần độn, ngu dốt, không nhận thức, tham ái và sự khao khát phát triển nhiều thêm khi kẻ ấy tăng trưởng (về tuổi tác).
1689. Thậm chí sau khi đã ban cho ruộng lúa sāli, ruộng lúa mạch, bò, ngựa, nô lệ, và con người ở trái đất cũng không đủ cho một người, sau khi biết như thế, nên hành xử công bằng.
1690. Vị vua sau khi chiến thắng trái đất bằng vũ lực, trong khi cư ngụ ở phần đất liền có đại dương bao quanh, có vẻ không thỏa mãn bờ bên này của biển cả, luôn bờ bên kia của biển cả cũng mong mỏi.
1691. Chừng nào còn tưởng nhớ các dục ở trong tâm, người ấy còn chưa đạt đến sự thỏa mãn. Sau khi nhìn thấy điều bất lợi, từ đó quay trở lại, dừng lại; những người nào đã được thỏa mãn về trí tuệ, những người ấy quả thật đã được thỏa mãn.
1692. Sự thỏa mãn về trí tuệ là cao quý, người ấy không bị đốt nóng bởi các dục. Với người đã được thỏa mãn về trí tuệ, tham ái không tạo được quyền lực.
1693. Thật vậy, nên giảm thiểu các dục, nên là người có ham muốn ít, không tham lam. Người (có trí tuệ lớn lao) ước chừng như biển cả, người ấy không bị đốt nóng bởi các dục.
1694. Tựa như người thợ thuộc da đang cắt miếng da tạo thành chiếc giày, mỗi khi dứt bỏ được chút nào của các dục, thì đạt đến hạnh phúc được chút ấy. Nếu mong muốn hạnh phúc trọn vẹn, thì nên lìa bỏ tất cả các dục.”
1695. “Tám kệ ngôn đã được ngài nói, tất cả đều xứng đáng bạc ngàn. Thưa vị Bà-la-môn vĩ đại, xin ngài hãy thọ nhận. Lành thay lời đã nói ấy của ngài.”
1696. “Không có lợi ích gì cho ta với một ngàn, với một trăm, hay với mười ngàn. Trong khi ta nói kệ ngôn cuối cùng, tâm ý của ta không còn thích thú ở dục.”
1697. “Chàng thanh niên thật sự hiền thiện, là bậc hiền sĩ hiểu biết tất cả thế gian, là bậc sáng suốt biết toàn diện tham ái, nguồn sanh ra khổ đau.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Gavaṃva siṅgino siṅgaṃ, vaḍḍhamānassa vaḍḍhati;
Evaṃ mandassa posassa, bālassa avijānato;
Bhiyyo taṇhā pipāsā ca, vaḍḍhamānassa vaḍḍhati.
Just as the horn of a horned bull grows as the bull grows, so too for the dull, foolish, and ignorant person, as he grows, craving and thirst increase all the more.
Giống như sừng của con bò có sừng, nó lớn lên khi con bò lớn lên; cũng vậy, đối với người đần độn, kẻ ngu si không hiểu biết, ái dục và khao khát lại càng tăng trưởng hơn khi người ấy lớn lên.
40.
40.
40.
Pathabyā sāliyavakaṃ, gavassaṃ † dāsaporisaṃ;
Datvā ca † nālamekassa, iti vidvā † samaṃ care.
Even having given fields of fine rice and barley on the earth, cattle and horses, and slaves and workers, it is not enough for one person. Knowing this, the wise one should practice a balanced conduct.
Lúa gạo và lúa mạch trên mặt đất, bò ngựa, tôi tớ và người hầu; dù cho tất cả những thứ ấy cũng không đủ cho một người. Biết như vậy, người trí nên sống một cách bình thản.
41.
41.
41.
Rājā pasayha pathaviṃ vijitvā, sasāgarantaṃ mahimāvasanto;
Oraṃ samuddassa atittarūpo †, pāraṃ samuddassapi patthayetha.
A king, having forcibly conquered the earth and ruling over this land bounded by the ocean, being insatiable with this near shore of the ocean, would still long for the other shore as well.
Một vị vua, sau khi dùng vũ lực chinh phục trái đất, cai trị vùng đất đến tận bờ đại dương, vẫn không thỏa mãn với bờ bên này của biển cả, lại còn mong muốn cả bờ bên kia.
42.
42.
42.
Yāva anussaraṃ kāme, manasā titti nājjhagā;
Tato nivattā paṭikamma disvā, te ve sutittā ye † paññāya tittā.
As long as one recollects sensual pleasures, one does not attain satisfaction of mind. But they who turn away from them, having seen their fault—those satisfied by wisdom—are indeed well satisfied.
Chừng nào còn tưởng nhớ đến các dục lạc, người ta không thể đạt được sự thỏa mãn trong tâm. Sau khi từ bỏ điều đó, hành động có suy xét và thấy rõ (sự nguy hại), những ai thỏa mãn bằng trí tuệ, họ mới thực sự là người được thỏa mãn tốt đẹp.
43.
43.
43.
Paññāya tittinaṃ † seṭṭhaṃ, na so kāmehi tappati;
Paññāya tittaṃ purisaṃ, taṇhā na kurute vasaṃ.
Satisfaction through wisdom is supreme; such a one is not tormented by sensual pleasures. Craving does not bring under its control the person who is satisfied by wisdom.
Sự thỏa mãn bằng trí tuệ là cao thượng nhất. Người ấy không bị các dục lạc làm cho phiền não. Người đã thỏa mãn bằng trí tuệ, ái dục không thể nào kiểm soát được.
44.
44.
44.
Apacinetheva kāmānaṃ †, appicchassa alolupo;
Samuddamatto puriso, na so kāmehi tappati.
One should indeed do away with sensual pleasures; one should have few wishes and not be greedy. A person whose wisdom is vast as the ocean is not tormented by sensual pleasures.
Nên giảm thiểu các dục lạc, hãy là người ít ham muốn, không tham lam. Người (sâu sắc) như đại dương, người ấy không bị các dục lạc làm cho phiền não.
45.
45.
45.
Rathakārova cammassa, parikantaṃ upāhanaṃ;
Yaṃ yaṃ cajati † kāmānaṃ, taṃ taṃ sampajjate sukhaṃ;
Sabbaṃ ce sukhamiccheyya, sabbe kāme pariccaje.
Just as a leather worker discards the scraps after cutting a shoe from a piece of leather, for whatever part of sensual pleasures one discards, by that very part is happiness attained. If one should wish for complete happiness, one should renounce all sensual pleasures.
Giống như người thợ da, khi cắt da làm giày, loại bỏ phần thừa; cũng vậy, mỗi khi từ bỏ phần nào của dục lạc, thì hạnh phúc lại được thành tựu từ chính phần đó. Nếu mong muốn có được hạnh phúc toàn vẹn, nên từ bỏ tất cả các dục lạc.
46.
46.
46.
Aṭṭha te bhāsitā gāthā, sabbā honti sahassiyo †;
Paṭigaṇha mahābrahme, sādhetaṃ tava bhāsitaṃ.
O great brahmin, the eight verses spoken by you are all worth a thousand each. Please accept these eight thousand. This speech of yours is excellent!
Tám bài kệ đã được ngài nói ra, tất cả đều đáng giá một ngàn. Xin hãy nhận lấy, hỡi vị Đại Phạm, lời nói này của ngài thật là hay.
47.
47.
47.
Na me attho sahassehi, satehi nahutehi vā;
Pacchimaṃ bhāsato gāthaṃ, kāme me na rato mano.
O great king, I have no need for thousands, nor for hundreds, nor for tens of thousands. As I was speaking the final verse, my mind took no delight in sensual pleasures.
Tâu Đại vương, tôi không cần đến hàng ngàn, hàng trăm, hay hàng vạn. Khi nói bài kệ cuối cùng, tâm tôi đã không còn vui thích trong các dục lạc.
48.
48.
48.
Bhadrako † vatāyaṃ māṇavako, sabbalokavidū muni;
Yo imaṃ taṇhaṃ † dukkhajananiṃ, parijānāti paṇḍitoti.
The wise young man who fully understands this craving, the generator of suffering—that sage, the knower of all the world—is indeed excellent!
Thanh niên này thật là hiền thiện thay, một bậc mâu-ni thông suốt mọi thế gian! Bậc trí tuệ đã liễu tri được ái dục này, là nguồn gốc của khổ đau.
Kāmajātakaṃ catutthaṃ.
The Kāma Jātaka, the Fourth.
Bổn sanh Kāma, chuyện thứ tư.