- Jātaka
- Dvādasakanipāta
- Cūḷakuṇālavagga
3. Samuddavāṇijajātaka
“Kasanti vapanti te janā, Manujā kammaphalūpajīvino; Nayimassa dīpakassa bhāgino, Jambudīpā idameva no varaṁ”.
Bản dịch
3. Samuddavāṇijajātaka
1674. “Các cư dân ấy cày và gieo hạt. Những người sống nhờ vào kết quả của công việc không phải là những người có phần chia của hòn đảo nhỏ này. Chính nơi này của chúng tôi còn quý báu hơn Jambudīpa.”
1675. “Mặt trăng vào ba hay năm đêm sắp đến, sẽ có một đợt triều lớn của biển cả tràn ngập hòn đảo cao quý này. Cái chết chớ có xảy ra cho quý vị. Quý vị hãy đi đến chỗ nương náu khác.”
1676. “Đợt triều của nước biển được sanh lên này không có thể tràn ngập hòn đảo cao quý này. Điều này đã được ta thấy nhờ vào nhiều điềm báo. Quý vị chớ sợ hãi. Việc gì quý vị sầu muộn? Quý vị hãy vui mừng.
1677. Có nhiều thức ăn, có nhiều cơm nước, có sự thành tựu về của cải. Chỗ trú ngụ này là cao quý. Ta không nhìn thấy bất cứ sự sợ hãi nào cho quý vị. Quý vị hãy vui đùa cùng các con cháu.”
1678. “Chính vị thần ở hướng nam tuyên bố về sự thật của điều ấy là ‘an toàn.’ Vị thần hướng bắc đã không biết về sự sợ hãi và không sợ hãi. Quý vị chớ sợ hãi. Việc gì quý vị sầu muộn? Quý vị hãy vui mừng.”
1679. “Giống như các Dạ-xoa này tranh cãi nhau, một bên bảo là sợ hãi, một bên bảo là an toàn. Vậy thì quý vị hãy lắng nghe lời nói của tôi. Mong rằng tất cả quý vị chớ bị tiêu hoại một cách mau chóng và chớp nhoáng.
1680. Tất cả chúng ta hãy tụ hội lại và làm chiếc thuyền, chiếc ghe chắc chắn, có đầy đủ tất cả bộ phận di chuyển (cây chèo, bánh lái, v.v...). Nếu vị thần ở hướng nam đã nói sự thật, thì vị thần ở hướng bắc tuyên bố điên rồ.
1681. Con thuyền sẽ thật sự có lợi ích cho chúng ta sau này khi có tai họa sanh khởi, và chúng ta sẽ không rời bỏ hòn đảo này. Và nếu vị thần ở hướng bắc đã nói sự thật, thì vị thần ở hướng nam tuyên bố điên rồ. Tất cả hãy leo lên chính chiếc thuyền ấy, như vậy chúng ta có thể vượt đến bờ kia một cách an toàn.
1682. Thật vật, trong khi không nắm lấy theo người thứ nhất là điều đúng đắn, sau khi nắm lấy việc đi theo quan điểm của người sau, và ở đây, người nào suy xét điều ở giữa rồi nắm lấy, chính người nam ấy đạt đến vị thế tốt nhất.”
1683. “Cũng giống như những người kia ở giữa dòng nước của biển cả, những người thương buôn đã đi đến sự an toàn nhờ vào hành động của bản thân. Sau khi thấu triệt lợi ích ở tương lai, người nào không bỏ qua dầu là việc có tính chất nhỏ nhen, người ấy là vị có trí tuệ uyên bác.
1684. Và những kẻ ngu tham đắm theo hương vị bởi vì si mê, sau khi không thấu triệt lợi ích trong tương lai, chúng ngồi yên trong hiện tại khi có sanh lên công việc, giống như là những người đàn ông ấy (bị mất mạng) ở giữa biển cả.
1685. Nên làm trước công việc cần làm cho thời vị lai (nghĩ rằng): ‘Mong rằng công việc không làm cho tôi rối loạn vào thời điểm của công việc.’ Vị ấy là người như thế ấy, có sự thực hiện công việc cần phải làm trước thời hạn. Công việc không làm cho vị ấy rối loạn vào thời điểm của công việc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Kasanti vapanti te janā, Manujā kammaphalūpajīvino; Nayimassa dīpakassa bhāgino, Jambudīpā idameva no varaṁ”.
“Those folk sow and reap, men living on the fruit of their work. They have no share of this island. This is better far than India!”
Những người kia cày và gieo, những con người sống nhờ vào kết quả của việc làm; họ không phải là người được hưởng phần của hòn đảo này. So với cõi Diêm-phù-đề, hòn đảo này của chúng ta quả là tốt đẹp hơn.
“Tipañcarattūpagatamhi cande, Vego mahā hehiti sāgarassa; Uplavissaṁ dīpamimaṁ uḷāraṁ, Mā vo vadhī gacchatha leṇamaññaṁ”.
“When the fifteenth day full moon has risen, there will be a great flood from the sea, drowning this splendid isle. Let it not destroy you all! Go to some other haven!”
Khi mặt trăng đến ngày rằm, sẽ có một cơn sóng lớn của đại dương. Nó sẽ nhấn chìm hòn đảo tuyệt vời này. Mong rằng cơn sóng không làm hại các ngươi, hãy đi đến một nơi ẩn náu khác.
“Na jātuyaṁ sāgaravārivego, Uplavissaṁ dīpamimaṁ uḷāraṁ; Taṁ me nimittehi bahūhi diṭṭhaṁ, Mā bhetha kiṁ socatha modathavho.
“Never shall a mighty flood of water from the sea drown this splendid isle—I have seen that through many a sign. Don’t fear! Why worry? Celebrate!
Cơn sóng nước của đại dương này chắc chắn sẽ không bao giờ nhấn chìm hòn đảo tuyệt vời này. Điều đó đã được ta thấy qua nhiều điềm báo. Chớ sợ hãi, sao phải sầu muộn? Hãy vui mừng lên!
Pahūtabhakkhaṁ bahuannapānaṁ, Pattattha āvāsamimaṁ uḷāraṁ; Na vo bhayaṁ paṭipassāmi kiñci, Āputtaputtehi pamodathavho”.
You’ve come to this splendid abode, full of food and drink. I see no danger for you at all. Celebrate, even unto the sons of sons!”
Các ngươi đã đến được nơi ở tuyệt vời này, có nhiều thức ăn, nhiều lương thực và đồ uống. Ta không thấy có bất kỳ sự nguy hiểm nào cho các ngươi. Hãy cùng con cháu vui mừng lên!
“Yo devoyaṁ dakkhiṇāyaṁ disāyaṁ, Khemanti pakkosati tassa saccaṁ; Na uttaro vedi bhayābhayassa, Mā bhetha kiṁ socatha modathavho”.
“This god in the southern quarter crying, ‘It is safe!’: his is the truth! The northern doesn’t know if there’s a danger or not. Don’t fear! Why worry? Celebrate!”
Vị thiên nhân nào ở phương nam, người đang kêu gọi rằng 'an ổn', lời của vị ấy là sự thật. Vị ở phương bắc không biết gì về nguy hiểm và an toàn. Chớ sợ hãi, sao phải sầu muộn? Hãy vui mừng lên!
“Yathā ime vippavadanti yakkhā, Eko bhayaṁ saṁsati khemameko; Tadiṅgha mayhaṁ vacanaṁ suṇātha, Khippaṁ lahuṁ mā vinassimha sabbe.
“As these spirits argue, one reporting danger, one safety, please heed my advice, lest we perish swift and fleet.
Vì những dạ-xoa này đang nói lời trái ngược nhau, một vị nói về sự nguy hiểm, một vị nói về sự an ổn. Vậy thì, hãy nghe lời của tôi đây: mong rằng tất cả chúng ta chớ bị hủy diệt một cách nhanh chóng.
Sabbe samāgamma karoma nāvaṁ, Doṇiṁ daḷhaṁ sabbayantūpapannaṁ; Sace ayaṁ dakkhiṇo saccamāha, Moghaṁ paṭikkosati uttaroyaṁ;
Let all join together to build a boat, a strong vessel fully equipped. If this southern one speaks true, and is falsely rejected by the northern,
Tất cả chúng ta hãy cùng nhau làm một chiếc thuyền, một chiếc tàu vững chắc, được trang bị đầy đủ máy móc. Nếu vị ở phương nam này nói sự thật, thì vị ở phương bắc kia đang kêu gọi một cách vô ích.
Chính chiếc thuyền ấy sẽ là phương tiện cho chúng ta trong lúc hoạn nạn, và chúng ta sẽ không từ bỏ hòn đảo này.
Sace ca kho uttaro saccamāha, Moghaṁ paṭikkosati dakkhiṇoyaṁ; Tameva nāvaṁ abhiruyha sabbe, Evaṁ mayaṁ sotthi taremu pāraṁ.
But if the northern speaks true, and is falsely rejected by the southern, then having all boarded the boat, we shall cross safely to the far shore.
Và nếu quả thật vị ở phương bắc nói sự thật, thì vị ở phương nam này đang kêu gọi một cách vô ích. Tất cả chúng ta, sau khi lên chính chiếc thuyền ấy, như vậy chúng ta sẽ an toàn vượt qua bờ bên kia.
Na ve sugaṇhaṁ paṭhamena seṭṭhaṁ, Kaniṭṭhamāpāthagataṁ gahetvā; Yo cīdha tacchaṁ paviceyya gaṇhati, Sa ve naro seṭṭhamupeti ṭhānaṁ.
Truly, best not accept the last word that came your way, when what was spoken by the first was best. Who here accepts the truth after examination, that man goes to the best place.”
Chắc chắn không nên dễ dàng chấp nhận lời nói đầu tiên là tốt nhất, cũng không nên vội tin lời nói sau cùng vừa nghe được. Người nào ở đây, sau khi điều tra, nắm bắt được sự thật, người ấy quả thật đạt đến địa vị cao thượng.
Yathāpi te sāgaravārimajjhe, Sakammunā sotthi vahiṁsu vāṇijā; Anāgatatthaṁ paṭivijjhiyāna, Appampi nācceti sa bhūripañño.
Just as, in the middle of the watery sea, the merchants fled to safety by their own efforts, so, realizing his future welfare, he of vast wisdom transgresses not at all.
Cũng như những thương nhân kia, giữa lòng biển cả, đã được an toàn nhờ vào hành động của chính mình; người có trí tuệ rộng lớn, sau khi thấu triệt được lợi ích trong tương lai, không bỏ qua dù là điều nhỏ nhất.
Bālā ca mohena rasānugiddhā, Anāgataṁ appaṭivijjhiyatthaṁ;
Fools deluded by desire for tastes, not realizing their future welfare,
Còn những kẻ ngu si, vì si mê mà tham đắm các vị, không thấu triệt được lợi ích trong tương lai;
họ bị chìm đắm khi sự việc xảy ra trong hiện tại, cũng như những người kia ở giữa đại dương.
Anāgataṁ paṭikayirātha kiccaṁ, ‘Mā maṁ kiccaṁ kiccakāle byadhesi’; Taṁ tādisaṁ paṭikatakiccakāriṁ, Na taṁ kiccaṁ kiccakāle byadhetī”ti.
Prepare what must be done for the future, thinking, “Let what must be done not harm me on the day the duty ripens.” The kind who acts to prepare what must be done, is not harmed by what must be done on the day the duty ripens.
Nên chuẩn bị trước công việc trong tương lai, (với suy nghĩ rằng): 'Mong rằng công việc không làm phiền ta vào lúc phải làm'. Người như vậy, đã chuẩn bị công việc từ trước, sẽ không bị công việc ấy làm phiền vào lúc phải làm.
Samuddavāṇijajātakaṁ tatiyaṁ.
Bổn sanh Samuddavāṇija, chuyện thứ ba.