Bản dịch
JA 465 — Chuyện Sàla, Cổ Thụ Cát Tường (Tiền thân Bhadda-Sàla)
2. Bhaddasālajātaka
1662. “Ngài là ai mà đứng ở không trung, trên bầu trời, với y phục tinh khiết? Vì sao các giọt nước mắt của ngài tuôn rơi? Nỗi sợ hãi ấy từ đâu đến?”
1663. “Tâu bệ hạ, ở trong lãnh thổ của bệ hạ, mọi người đã biết rõ tôi là ‘ Bhaddasāla ’ (Cây May Mắn). Trong khi tồn tại sáu mươi ngàn năm, tôi đã được họ tôn vinh.
1664. Tâu vị chúa tể các phương, trong khi cho xây dựng các thành phố, các ngôi nhà, và luôn cả các tòa lâu đài đa dạng, họ đã không xúc phạm đến tôi. Họ đã tôn vinh tôi như thế nào, mong rằng bệ hạ cũng hãy tôn vinh tôi y như thế.”
1665. “Trẫm chưa nhìn thấy cây nào như ngài; thân cây của ngài đồ sộ về kích thước, về chiều cao, và về chu vi. Ngài là tuyệt vời về chủng loại.
1666. Trẫm sẽ cho làm tòa lâu đài có một cột trụ, làm thích ý. Trẫm sẽ đưa ngài về nơi ấy. Này vị Dạ-xoa, cuộc sống của ngài sẽ được lâu dài.”
1667. “Nếu tâm của bệ hạ đã sanh khởi như vậy, là việc tách rời tôi với thân cây, vậy hãy cắt lìa tôi thành nhiều phần, hãy cắt đứt thành từng khúc.
1668. Sau khi cắt ở phần ngọn, ở phần giữa, và sau cùng hãy cắt ở phần gốc. Trong khi tôi bị cắt đứt như vậy, thì cái chết có thể là không đau đớn.”
1669. “Giống như chặt đứt bàn tay và bàn chân, rồi lỗ tai và lỗ mũi ở người còn sống, kế đến chặt đứt cái đầu sau cùng; cái chết ấy có thể là đau đớn.
1670. Này thần cây may mắn, này vị chúa tể của khu rừng, phải chăng việc được cắt thành khúc là an toàn? Điều gì là nguyên nhân, liên quan đến điều gì mà ngài lại muốn được cắt thành khúc?”
1671. “Việc tôi muốn được cắt thành khúc là có nguyên nhân, liên quan đến nguyên nhân được gắn liền với thực tế. Tâu đại vương, xin hãy lắng nghe tôi.
1672. Các thân quyến của tôi được phát triển an toàn, được sanh ra yên ổn ở bên cạnh tôi. Tôi lại có thể gây tổn thương đến họ, là việc đem lại sự không an toàn cho những người khác (nếu bị đốn ngã nguyên cây).”
1673. “Này thần cây may mắn, này vị chúa tể của khu rừng, ngài suy nghĩ có vẻ thấu đáo. Ngài có sự mong muốn điều lợi ích cho các thân quyến, thưa ngài, trẫm ban cho ngài sự không sợ hãi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kā tvaṃ suddhehi vatthehi, aghe vehāyasaṃ † ṭhitā;
Kena tyāssūni vattanti, kuto taṃ bhayamāgataṃ.
Who are you, clad in pure garments, standing unsupported in the sky? For what reason do your tears flow? From where has this fear come to you?
Này vị kia, mặc y phục trắng tinh, đứng lơ lửng trên không trung, người là ai? Vì sao nước mắt người tuôn rơi? Nỗi sợ hãi nào đã đến với người?
14.
14.
14.
Taveva deva vijite, bhaddasāloti maṃ vidū;
Saṭṭhi † vassasahassāni, tiṭṭhato pūjitassa me.
O Deva, in your very own kingdom, they know me as Bhaddasāla. For sixty thousand years I have stood here, being worshipped.
Tâu Đại vương, ngay trong vương quốc của ngài, người ta biết đến tôi với tên gọi là Bhaddasāla. Tôi đã đứng đây, được mọi người tôn kính, trong sáu mươi ngàn năm.
15.
15.
15.
Kārayantā nagarāni, agāre ca disampati;
Vividhe cāpi pāsāde, na maṃ te accamaññisuṃ;
Yatheva maṃ te pūjesuṃ, tatheva tvampi pūjaya.
Those lords of the directions, while having cities, houses, and various palaces built, did not treat me with contempt. Just as they worshipped me, so should you, too, worship me.
Tâu chúa tể các phương, khi các vị vua xưa xây dựng thành trì, nhà cửa, và các loại lâu đài khác nhau, họ đã không hề xúc phạm đến tôi. Như cách họ đã tôn kính tôi, xin ngài cũng hãy tôn kính tôi như vậy.
16.
16.
16.
Taṃ ivāhaṃ † na passāmi, thūlaṃ kāyena te dumaṃ;
Ārohapariṇāhena, abhirūposi jātiyā.
I do not see another tree as massive in body as you. In height and circumference, you are beautiful by nature.
Ta không thấy cây nào khác to lớn như thân cây của ngươi. Về chiều cao và chu vi, ngươi quả là tuyệt đẹp tự nhiên.
17.
17.
17.
Pāsādaṃ kārayissāmi, ekatthambhaṃ manoramaṃ;
Tattha taṃ upanessāmi, ciraṃ te yakkha jīvitaṃ.
I will have a delightful palace with a single pillar built. There I will bring you. Your life, O Yakkha, will be long.
Ta sẽ cho xây một cung điện một cột, thật lộng lẫy. Ta sẽ đưa ngươi vào đó. Này dạ xoa, ngươi sẽ được sống lâu dài.
18.
18.
18.
Evaṃ cittaṃ udapādi, sarīrena vinābhāvo;
Puthuso maṃ vikantitvā, khaṇḍaso avakantatha.
Since this thought has arisen—that there must be separation from my body—then having cut me up in many ways, cut me into pieces.
Tâm niệm như vầy đã khởi lên (nơi tôi): "Sẽ có sự chia lìa khỏi thân cây này". Xin hãy xẻ tôi ra thành nhiều mảnh, hãy chặt tôi ra từng khúc.
19.
19.
19.
Agge ca chetvā majjhe ca, pacchā mūlamhi chindatha †;
Evaṃ me chijjamānassa, na dukkhaṃ maraṇaṃ siyā.
Having cut the top and the middle, afterwards, cut at the root. For me, being cut in this way, death would not be painful.
Xin hãy chặt phần ngọn và phần giữa trước, sau đó hãy chặt ở phần gốc. Khi tôi bị chặt như vậy, cái chết sẽ không đau đớn.
20.
20.
20.
Hatthapādaṃ † yathā chinde †, kaṇṇanāsañca jīvato;
Tato pacchā siro chinde, taṃ dukkhaṃ maraṇaṃ siyā.
Just as if one were to cut the hands and feet, the ears and nose of a living person, and after that cut the head—that would be a painful death.
Cũng như đối với người đang sống, nếu tay chân, tai mũi bị chặt trước, rồi sau đó mới chặt đầu, thì cái chết đó sẽ rất đau đớn.
21.
21.
21.
Sukhaṃ nu khaṇḍaso chinnaṃ, bhaddasālavanappati;
Kiṃ hetu kiṃ upādāya, khaṇḍaso chinnamicchasi.
Is it pleasant to be cut piece by piece, O Bhaddasāla, lord of the forest? For what reason, on what grounds, do you wish to be cut piece by piece?
Này Bhaddasāla, chúa tể của rừng xanh, bị chặt ra từng khúc có phải là điều dễ chịu chăng? Vì lý do gì, vì duyên cớ gì mà ngươi lại muốn bị chặt ra từng khúc?
22.
22.
22.
Yañca hetumupādāya, hetuṃ dhammūpasaṃhitaṃ;
Khaṇḍaso chinnamicchāmi, mahārāja suṇohi me.
O great king, listen to my reason for wishing to be cut piece by piece, a reason that is connected with the Dhamma.
Tâu Đại vương, xin hãy lắng nghe lý do của tôi, một lý do phù hợp với Chánh pháp, vì sao tôi mong muốn bị chặt ra từng khúc.
23.
23.
23.
Ñātī me sukhasaṃvaddhā, mama passe nivātajā;
Tepihaṃ upahiṃseyyaṃ, paresaṃ asukhocitaṃ.
My kinsfolk have grown up in comfort, born in a sheltered place beside me. I would harm them too, thus causing sorrow for others.
Bên cạnh tôi có những quyến thuộc của tôi, đã lớn lên trong an lạc, sinh trưởng ở nơi kín gió. (Nếu bị đốn ngã nguyên cây), tôi sẽ làm hại cả họ, và như vậy là gây ra đau khổ cho những người khác.
24.
24.
24.
Ceteyyarūpaṃ † cetesi, bhaddasālavanappati;
Hitakāmosi ñātīnaṃ, abhayaṃ samma dammi teti.
You have conceived a worthy thought, O Bhaddasāla, lord of the forest. You desire the welfare of your kinsmen; friend, I grant you safety.
Này Bhaddasāla, chúa tể của rừng xanh, ngươi đã suy nghĩ một điều thật đáng suy ngẫm. Ngươi mong muốn điều tốt lành cho quyến thuộc của mình. Này bạn, ta ban cho ngươi sự vô úy (an toàn).
Bhaddasālajātakaṃ dutiyaṃ.
The Bhaddasāla Jātaka, the Second.
Chuyện Tiền Thân Bhaddasāla, Thứ Hai.