Bản dịch
JA 461 — Chuyện Đại Vương Dasaratha (Tiền thân Dasaratha)
7. Dasarathajātaka
1613. “Này Lakkhaṇa và Sītā, hai em hãy đến. Cả hai hãy lội xuống nước. Bharata này đã nói như vầy: ‘Phụ vương Dasaratha đã băng hà.’”
1614. “Thưa anh Rāma, do năng lực gì mà anh không sầu muộn về việc đáng bị sầu muộn? Sau khi nghe tin cha mất, khổ đau không chế ngự được anh.”
1615. “Vật mà con người, trong khi khóc lóc thật nhiều, mà vẫn không thể bảo tồn được, vậy thì vị có sự hiểu biết, thông minh, tại sao lại bực bội bản thân?
1616. Bởi vì những đứa trẻ con và những người lớn tuổi, những kẻ ngu si và những vị sáng suốt, những người giàu sang luôn cả những người nghèo khó, tất cả đều có sự chết là nơi cuối cùng.
1617. Giống như đối với những trái cây đã chín, hiểm họa do việc rơi rụng là thường xuyên, tương tự như vậy, đối với những con người đã được sanh ra, hiểm họa về cái chết là thường xuyên.
1618. Nhiều người được nhìn thấy vào buổi sáng, thì một số không còn được nhìn thấy vào buổi tối. Nhiều người được nhìn thấy vào buổi tối , thì một số không còn được nhìn thấy vào sáng (hôm sau).
1619. Nếu trong khi than vãn, trong khi hành hạ bản thân, kẻ bị mê muội có thể tạo ra việc lợi ích nào đó, thì người khôn khéo cũng nên làm điều ấy.
1620. Trong khi tự mình hãm hại mình, (người này) trở nên gầy ốm, xuống sắc, những người đã quá vãng không được trợ giúp do việc làm ấy; sự than vãn là không có lợi ích.
1621. Giống như người có thể dùng nước dập tắt chỗ trú ngụ bị đốt cháy, cũng tương tự như thế, người sáng trí, có kiến thức, thông minh, sáng suốt, có thể mau chóng xua tan sự sầu muộn đã được sanh khởi, tựa như làn gió thổi bay sợi bông gòn.
1622. Khi một người chết đi, liền có một người khác sanh ra trong gia tộc. Theo ý nghĩa tuyệt đối của sự liên kết với nhau, có sự thọ hưởng chung giữa các chúng sanh với nhau.
1623. Chính vì thế, đối với vị thông minh, có nhiều kiến thức, trong khi xem xét một cách đúng đắn về đời này và đời sau, sau khi hiểu thông quy luật, thì các nỗi sầu muộn mặc dầu lớn lao, cũng không làm cho tâm và ý của vị ấy bị bực bội.
1624. Ta đây sẽ ban phát, sẽ nuôi dưỡng, và sẽ bảo bọc các thân quyến, ta sẽ bảo vệ số còn lại; việc này là phận sự của người có nhận thức.”
1625. Đức vua Rāma, với cổ có ba ngấn ( tướng may mắn) và cánh tay to lớn, đã trị vì vương quốc mười sáu ngàn năm.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Etha lakkhaṇa sītā ca, ubho otarathodakaṃ;
Evāyaṃ bharato āha, ‘‘rājā dasaratho mato’’.
Come, Lakkhaṇa and Sītā, both of you descend into the water. For thus has Bharata said: 'King Dasaratha is dead.'
Này Lakkhaṇa và Sītā, cả hai hãy đến đây, hãy xuống nước. Bharata này đã nói như vầy: ‘Đức vua Dasaratha đã băng hà’.
85.
85.
85.
Kena rāmappabhāvena, socitabbaṃ na socasi;
Pitaraṃ kālakataṃ † sutvā, na taṃ pasahate dukhaṃ.
By what power, O Rāma, do you not grieve for what should be grieved? Having heard that your father has passed away, why does sorrow not oppress you?
Tâu vương huynh Rāma, do uy lực nào mà ngài không sầu muộn về việc đáng sầu muộn? Khi nghe tin phụ vương đã băng hà, sao nỗi khổ đau không áp đảo được ngài?
86.
86.
86.
Yaṃ na sakkā nipāletuṃ, posena lapataṃ bahuṃ;
Sa kissa viññū medhāvī, attānamupatāpaye.
Since one, by lamenting much, is unable to protect the deceased, why should a discerning and wise person torment themself?
Điều mà một người, dù có than khóc nhiều, cũng không thể bảo vệ được, vậy thì tại sao một người hiểu biết, có trí tuệ lại tự làm khổ mình?
87.
87.
87.
Daharā ca hi vuddhā ca †, ye bālā ye ca paṇḍitā;
Aḍḍhā ceva daliddā ca, sabbe maccuparāyaṇā.
The young and the old, the foolish and the wise, the wealthy and the poor—all have death as their final destination.
Cả người trẻ lẫn người già, cả kẻ ngu lẫn người trí, cả người giàu lẫn người nghèo, tất cả đều có cái chết là đích đến.
88.
88.
88.
Phalānamiva pakkānaṃ, niccaṃ patanato bhayaṃ;
Evaṃ jātāna maccānaṃ, nicca maraṇato bhayaṃ.
Just as for ripe fruits there is constant fear of falling, so for mortals who have been born there is constant fear of death.
Ví như những trái cây đã chín, luôn có nỗi lo sợ bị rụng. Cũng vậy, những chúng sanh đã được sanh ra, luôn có nỗi lo sợ về cái chết.
89.
89.
89.
Sāyameke na dissanti, pāto diṭṭhā bahujjanā;
Pāto eke na dissanti, sāyaṃ diṭṭhā bahujjanā.
Of the many people seen in the morning, some are not seen by evening; of the many people seen in the evening, some are not seen by morning.
Trong số nhiều người được thấy vào buổi sáng, có một số người không còn được thấy vào buổi chiều. Trong số nhiều người được thấy vào buổi chiều, có một số người không còn được thấy vào buổi sáng.
90.
90.
90.
Paridevayamāno ce, kiñcidatthaṃ udabbahe;
Sammūḷho hiṃsamattānaṃ, kayirā taṃ vicakkhaṇo.
If a deluded person, harming themself while lamenting, could bring about some benefit, a wise person would also do that.
Nếu người than khóc, trong lúc mê muội tự làm hại mình, mà có thể mang lại được chút lợi ích nào đó, thì người có trí xét đoán cũng sẽ làm việc ấy.
91.
91.
91.
Kiso vivaṇṇo bhavati, hiṃsamattānamattano †;
Na tena petā pālenti, niratthā paridevanā.
One becomes thin and discolored, harming one's own self. The departed are not sustained by this; lamentation is pointless.
Người ấy trở nên gầy gò, xanh xao, tự làm hại chính mình. Nhờ đó mà những người đã chết không được bảo vệ. Sự than khóc là vô ích.
92.
92.
92.
Yathā saraṇamādittaṃ, vārinā parinibbaye †;
Evampi dhīro sutavā, medhāvī paṇḍito naro;
Khippamuppatitaṃ sokaṃ, vāto tūlaṃva dhaṃsaye.
Just as one might extinguish a burning house with water, so too a steadfast, learned, insightful, and wise person should quickly extinguish arisen sorrow, as the wind blows away a tuft of cotton.
Cũng như người ta dùng nước để dập tắt một ngôi nhà đang cháy, cũng vậy, người kiên định, đa văn, thông tuệ, và có trí, hãy nhanh chóng dập tắt nỗi sầu muộn vừa khởi sanh, như cơn gió thổi bay đi một cụm bông gòn.
93.
93.
93.
Macco ekova † acceti, ekova jāyate kule;
Saṃyogaparamātveva, sambhogā sabbapāṇinaṃ.
A mortal passes away alone and is born alone into a family. The connections of all living beings have association as their utmost limit.
Chúng sanh một mình ra đi, một mình sanh ra trong gia tộc. Sự giao tiếp của tất cả chúng sanh chỉ có sự liên kết là cao nhất.
94.
94.
94.
Tasmā hi dhīrassa bahussutassa, sampassato lokamimaṃ parañca;
Aññāya dhammaṃ hadayaṃ manañca, sokā mahantāpi na tāpayanti.
Therefore, for the wise and learned one who clearly sees this world and the next, having understood the nature of things, even great sorrows do not afflict the heart and mind.
Vì vậy, đối với bậc hiền trí, bậc đa văn, người thấy rõ thế giới này và thế giới bên kia, sau khi đã liễu tri chánh pháp, thì dù những sầu muộn to lớn cũng không thể làm phiền não được tâm và ý của vị ấy.
95.
95.
95.
Sohaṃ dassañca bhokkhañca, bharissāmi ca † ñātake;
Sesañca pālayissāmi, kiccametaṃ † vijānato.
I will give and I will enjoy; I will support my relatives and I will protect the rest. This is the duty of one who understands.
Ta sẽ bố thí và hưởng dụng, sẽ nuôi dưỡng các quyến thuộc, và sẽ bảo hộ những người còn lại. Đây là phận sự của người có hiểu biết.
96.
96.
96.
Dasa vassasahassāni, saṭṭhi vassasatāni ca;
Kambugīvo mahābāhu, rāmo rajjamakārayīti.
For ten thousand years and sixty hundred years, Rāma, the mighty-armed one with a conch-like neck, ruled the kingdom.
Trong mười ngàn năm và sáu mươi trăm năm, đức vua Rāma, người có cổ như vỏ ốc và cánh tay hùng mạnh, đã trị vì vương quốc.
Dasarathajātakaṃ sattamaṃ.
The Dasaratha Jātaka, the seventh.
Bổn sanh Dasaratha là thứ bảy.
462. Saṃvarajātakaṃ (8)
462. The Saṃvara Jātaka (8)
462. Bổn sanh Saṃvara (8)
97.
97.
97.