Bản dịch
JA 458 — Chuyện Vua Thiện Lai (Tiền thân Udaya)
4. Udayajātaka
1568. “Hỡi nàng có dáng hình không bị chê bai, sau khi đã bước lên tòa lâu đài, nàng ngồi một mình, (y phục) tinh khiết, với hai bắp vế được khép lại. Hỡi nàng có cặp mắt tựa như mắt của loài nhân điểu, ta cầu xin nàng, hai chúng ta hãy sống chung một đêm này.”
1569. “Thành này khó xâm nhập, có hào được đào ở bên trong, có tháp canh và cổng thành vững chắc, được canh giữ bởi các vệ sĩ gươm cầm ở tay.
1570. Việc đi đến nơi này là không được phép đối với người trẻ tuổi và luôn cả binh lính. Vậy bởi lý do gì, chàng lại mong mỏi sự gặp gỡ với thiếp?”
1571. “Này mỹ nữ, ta là Dạ-xoa. Ta đã đi đến bên nàng. Này công nương, nàng hãy làm cho ta vui vẻ. Ta tặng cho nàng chiếc đĩa đầy (vàng).”
1572. “Sau khi đức vua Udaya từ trần, thiếp không mong mỏi người nào khác, dầu là Thiên thần, Dạ-xoa, hay là loài người. Này vị Dạ-xoa có đại thần lực, ngài hãy đi ngay, và ngài chớ có ở đây. Sau khi đi rồi, ngài chớ quay lại nữa.”
1573. “Sự khoái lạc nào là cùng tột đối với những người hưởng thụ dục lạc, và chúng sanh hành xử không giống nhau ở các khoái lạc, nàng chớ làm mai một sự khoái lạc ấy. Hỡi nàng có nụ cười làm vui lòng, ta tặng cho nàng chiếc đĩa bạc đầy.”
1574. “Người nam, trong khi lấy lòng người nữ bằng tài sản, thì ca ngợi về điều nào tạo ra sự mong muốn ở người nữ; còn phương pháp ở chư Thiên của ngài thì ngược lại, điều rõ ràng là ngài đi đến với của cải ít hơn.”
1575. “Hỡi cô nàng có cơ thể xinh xắn, tuổi thọ và sắc đẹp của loài người ở thế giới nhân loại bị giảm dần. Chính vì lý do đó, tài sản dành cho nàng cũng bị giảm dần; hôm nay, nàng già hơn.
1576. Hỡi nàng công chúa có danh tiếng, tương tự như vậy, trong khi tôi nhìn ngắm nàng. Quả thật sắc đẹp của nàng bị phai tàn, khi các ngày và đêm trôi qua.
1577. Hỡi nàng công chúa thông minh, với độ tuổi này, nếu nàng có thể thực hành Phạm hành, thì nàng có thể trở thành người có sắc đẹp hơn nữa.”
1578. “Chư Thiên không trở nên già giống như loài người. Ở các phần thân thể của họ không có các nếp nhăn. Thưa vị Dạ-xoa có đại thần lực, thiếp hỏi ngài, cơ thể thân xác của chư Thiên là như thế nào?”
1579. “Chư Thiên không trở nên già giống như loài người. Ở các phần thân thể của họ không có các nếp nhăn. Sắc đẹp thiên thần và của cải sung túc của họ càng nhiều hơn thêm nữa theo từng ngày một.”
1580. “Các hạng người ở nơi này sợ hãi điều gì? Và con đường nào có nhiều nơi chốn nương tựa đã được nói đến. Thưa vị Dạ-xoa có đại thần lực, thiếp hỏi ngài, đứng ở nơi nào thì không sợ hãi thế giới khác?”
1581. “Người nào gìn giữ lời nói và ý nghĩ một cách đúng đắn, không làm các việc ác bằng thân, sống ở ngôi nhà có nhiều cơm ăn và nước uống, là người có niềm tin, mềm mỏng, có sự san sẻ, rộng lượng, là người hào phóng, nói năng tử tế, có lời nói mềm mỏng, người (có những đức tính như thế) đứng ở nơi này thì không sợ hãi thế giới khác.”
1582. “Thưa vị Dạ-xoa, ngài chỉ dạy thiếp giống như người mẹ, giống như người cha (chỉ dạy con cái). Hỡi vị có sắc đẹp nổi bật, thiếp xin hỏi ngài. Hỡi bậc vô cùng cao thượng, ngài là ai?”
1583. “Này mỹ nữ, ta là Udaya. Do đã có lời hứa hẹn nên ta đi đến nơi này. Sau khi đã nói với nàng thì ta ra đi. Ta đã tháo gở xong lời hứa hẹn với nàng.”
1584. “Nếu ngài quả là Udaya, và ngài đi đến nơi này do đã có lời hứa hẹn. Thưa Thiên tử, ngài hãy chỉ dạy thiếp theo cách nào để có được sự gặp gỡ lại nữa.”
1585. “Cuộc sống thoáng qua giống y như phút chốc. Không có sự tồn tại bền vững, các chúng sanh chết đi, cơ thể bị tàn tạ, không trường tồn. Này nàng Udayā, nàng chớ xao lãng, hãy thực hành thiện pháp.
1586. Nếu toàn bộ trái đất được chứa đầy tài sản chỉ thuộc về một người, không phụ thuộc vào người nào khác, và ngay cả kẻ có tham ái chưa được xa lìa rồi cũng phải rời bỏ nó. Này nàng Udayā, nàng chớ xao lãng, hãy thực hành thiện pháp.
1587. Mẹ, cha, và anh em trai, luôn cả người vợ được mua về bằng tài sản, bọn họ rồi cũng lìa bỏ, lần lượt từng người một. Này nàng Udayā, nàng chớ xao lãng, hãy thực hành thiện pháp.
1588. Sau khi biết rằng thân này là bữa ăn cho các chúng sanh khác, nhàn cảnh và khổ cảnh trong sự luân hồi có cuộc sống ngắn ngủi do sự mất mát, này nàng Udayā, nàng chớ xao lãng, hãy thực hành thiện pháp.”
1589. “Vị Dạ-xoa này nói khéo léo. Đời sống của loài người là ít ỏi, khó khăn, và nhỏ nhoi; điều ấy là gắn liền với khổ đau. Thiếp đây, một mình, sẽ xuất gia, sau khi từ bỏ xứ sở Kāsi và thành phố Surundhana.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ekā nisinnā suci saññatūrū, pāsādamāruyha aninditaṅgī;
Yācāmi taṃ kinnaranettacakkhu, imekarattiṃ ubhayo vasema.
Seated alone, pure and with restrained thighs, of flawless limbs, having ascended the palace—I beg you, O one with eyes like a kinnara’s, let us two dwell together for this one night.
Nàng trong sạch, đùi thon gọn, thân hình không chê vào đâu được, đã lên lầu son ngồi một mình. Ta van xin nàng, hỡi người có đôi mắt như mắt của kinnara, chúng ta hãy ở cùng nhau một đêm này.
38.
38.
38.
Okiṇṇantaraparikhaṃ, daḷhamaṭṭālakoṭṭhakaṃ;
Rakkhitaṃ khaggahatthehi, duppavesamidaṃ puraṃ.
With its moats filled and its inner ramparts, with strong watchtowers and gate-towers, guarded by men with swords in hand, this city is difficult to enter.
Thành phố này được bao quanh bởi hào sâu, có những tháp canh và cổng thành vững chắc. Được canh giữ bởi những người tay cầm gươm, nơi đây rất khó để vào.
39.
39.
39.
Daharassa yuvino cāpi, āgamo ca na vijjati;
Atha kena nu vaṇṇena, saṅgamaṃ icchase mayā.
For a young man there is no way of entry. For what reason, then, do you desire union with me?
Không có lối vào cho một người trẻ tuổi. Vậy thì, vì lý do gì mà ngài lại muốn gặp gỡ tôi?
40.
40.
40.
Yakkhohamasmi kalyāṇi, āgatosmi tavantike †;
Tvaṃ maṃ nandaya † bhaddante, puṇṇakaṃsaṃ dadāmi te.
I am a yakkha, O lovely one; I have come into your presence. May it be well with you! Delight me, and I will give you this full bowl.
Này nàng kiều diễm, ta là một dạ-xoa, ta đã đến gần nàng. Cầu mong nàng được an lành. Nàng hãy làm ta vui lòng, ta sẽ cho nàng một chiếc bát đầy vàng.
41.
41.
41.
Devaṃ va yakkhaṃ atha vā manussaṃ, na patthaye udayamaticca aññaṃ;
Gaccheva tvaṃ yakkha mahānubhāva, mā cassu gantvā punarāvajittha.
Be it a deva, a yakkha, or a human, I desire no other, passing over Udaya. Go, O yakkha of great power, and having gone, do not return.
Ngoài Udaya ra, tôi không mong muốn một ai khác, dù là trời, dạ-xoa, hay là người. Hỡi dạ-xoa đầy quyền năng, ngài hãy đi đi. Đã đi rồi thì xin đừng quay trở lại.
42.
42.
42.
Yā sā rati uttamā kāmabhoginaṃ, yaṃ hetu sattā visamaṃ caranti;
Mā taṃ ratiṃ jīyi tuvaṃ sucimhi te, dadāmi te rūpiyaṃ kaṃsapūraṃ.
That which is the supreme delight for those who enjoy sensual pleasures, for the sake of which beings act wrongly—O you of the pleasant smile, do not be deprived of that delight! I will give you a silver bowl filled to the brim.
Sự hoan lạc tối thượng của những người hưởng thụ dục lạc, vì nó mà chúng sanh hành động sai trái. Hỡi nàng có nụ cười trong sáng, nàng đừng để mất đi sự hoan lạc ấy. Ta sẽ cho nàng một chiếc bát đầy bạc.
43.
43.
43.
Nāriṃ naro nijjhapayaṃ dhanena, ukkaṃsatī yattha karoti chandaṃ;
Vipaccanīko tava devadhammo, paccakkhato thokatarena esi.
A man wins over a woman with wealth, exalting her on whom he sets his desire. Your deva-nature is contrary to this; you come with very little in hand.
Một người đàn ông, khi dùng của cải để thuyết phục một người phụ nữ, sẽ ca ngợi người mà y mong muốn. Bản chất thần thánh của ngài thật trái ngược; ngài đến đây một cách trực tiếp với quá ít của cải.
44.
44.
44.
Āyu ca vaṇṇo ca † manussaloke, nihīyati manujānaṃ suggatte;
Teneva vaṇṇena dhanampi tuyhaṃ, nihīyati jiṇṇatarāsi ajja.
Life and beauty in the human world decline for mortals, O you of fair form. For that very reason, your wealth also declines. Today you are older.
Hỡi nàng có thân hình xinh đẹp, trong cõi người, tuổi thọ và sắc đẹp của con người đều suy giảm. Cũng theo cách đó, của cải của nàng cũng suy giảm. Hôm nay nàng đã già hơn rồi.
45.
45.
45.
Evaṃ me pekkhamānassa, rājaputti yasassini;
Hāyateva tava † vaṇṇo, ahorattānamaccaye.
Thus, even as I watch, O renowned princess, your beauty truly fades with the passing of days and nights.
Này công chúa danh tiếng lẫy lừng, trong khi ta đang nhìn như thế này, nhan sắc của nàng quả thật đang tàn phai khi ngày đêm trôi qua.
46.
46.
46.
Imināva tvaṃ vayasā, rājaputti sumedhase;
Brahmacariyaṃ careyyāsi, bhiyyo vaṇṇavatī siyā.
While in this very youth, O princess of good wisdom, you should live the holy life; then you would become even more radiant.
Này công chúa bậc trí tuệ, với chính tuổi tác này, nàng nên thực hành phạm hạnh, (như vậy) nàng sẽ trở nên xinh đẹp hơn nữa.
47.
47.
47.
Devā na jīranti yathā manussā, gattesu tesaṃ valiyo na honti;
Pucchāmi taṃ yakkha mahānubhāva, kathaṃ nu devāna † sarīradeho.
Devas do not grow old as humans do; on their limbs there are no wrinkles. I ask you, O yakkha of great power, what then is the bodily frame of the devas like?
Phải chăng chư thiên không già đi như loài người, phải chăng trên thân thể của họ không có các nếp nhăn? Tôi xin hỏi ngài, dạ xoa có đại thần lực, thân thể của chư thiên làm sao lại không già đi?
48.
48.
48.
Devā na jīranti yathā manussā, gattesu tesaṃ valiyo na honti;
Suve suve bhiyyatarova † tesaṃ, dibbo ca vaṇṇo vipulā ca bhogā.
Devas do not grow old as humans do; there are no wrinkles on their limbs. Day by day their divine beauty and abundant enjoyments increase even more.
Chư thiên không già đi như loài người, trên thân thể của họ không có các nếp nhăn. Mỗi ngày, nhan sắc cõi trời và tài sản sung mãn của họ lại càng tăng thêm.
49.
49.
49.
Kiṃsūdha bhītā janatā anekā, maggo ca nekāyatanaṃ pavutto;
Pucchāmi taṃ yakkha mahānubhāva, katthaṭṭhito paralokaṃ na bhāye.
Why indeed are the many people here afraid, and the path is said to have many abodes? I ask you, O yakkha of great power: established in what does one not fear the next world?
Ở đây, nhiều chúng sanh sợ hãi điều gì, và con đường có nhiều nền tảng đã được tuyên thuyết? Tôi xin hỏi ngài, dạ xoa có đại thần lực, an trú vào đâu thì không sợ hãi đời sau?
50.
50.
50.
Vācaṃ manañca paṇidhāya sammā, kāyena pāpāni akubbamāno;
Bahunnapānaṃ gharamāvasanto, saddho mudū saṃvibhāgī vadaññū;
Saṅgāhako sakhilo saṇhavāco, etthaṭṭhito paralokaṃ na bhāye.
Having rightly directed speech and mind, doing no evil deeds with the body; dwelling in a home with abundant food and drink; being faithful, gentle, willing to share, and generous; being helpful, friendly, and soft-spoken—established in this, one does not fear the next world.
Hướng lời nói và ý một cách chân chánh, không làm các điều ác bằng thân, sống tại gia có nhiều đồ ăn thức uống, có tín tâm, nhu hòa, biết chia sẻ, quảng đại, biết nhiếp trì, nói lời thân ái, nói lời dịu dàng; người an trú vào đây thì không sợ hãi đời sau.
51.
51.
51.
Anusāsasi maṃ yakkha, yathā mātā yathā pitā;
Uḷāravaṇṇaṃ pucchāmi, ko nu tvamasi subrahā.
You instruct me, O yakkha, as a mother or a father would. I ask you, O magnificent one: who are you, so very virtuous?
Này dạ xoa, ngài giáo huấn tôi như mẹ, như cha. Tôi xin hỏi ngài, bậc có dung sắc cao quý, này bậc Phạm thiên cao cả, ngài là ai vậy?
52.
52.
52.
Udayohamasmi kalyāṇi, saṅkarattā idhāgato †;
Āmanta kho taṃ gacchāmi, muttosmi tava saṅkarā †.
I am Udaya, O lovely one, come here because of our promise. Now I take leave of you and go; I am freed from your promise.
Này nàng hiền thục, ta là Udaya, vì lời hẹn ước nên đã đến đây. Ta xin cáo từ nàng rồi sẽ ra đi, ta đã được giải thoát khỏi lời hẹn ước của nàng.
53.
53.
53.
Sace kho tvaṃ udayosi, saṅkarattā idhāgato;
Anusāsa maṃ rājaputta, yathāssa puna saṅgamo.
If you are indeed Udaya, come here because of our promise, then instruct me, O Prince, so that there may be a reunion.
Nếu quả thật chàng là Udaya, vì lời hẹn ước nên đã đến đây, thì xin hãy giáo huấn cho thiếp, hỡi vương tử, để chúng ta có thể được đoàn tụ trở lại.
54.
54.
54.
Atipatati † vayo khaṇo tatheva, ṭhānaṃ natthi dhuvaṃ cavanti sattā;
Parijiyyati addhuvaṃ sarīraṃ, udaye mā pamāda † carassu dhammaṃ.
Age slips by, and the moment likewise; there is no permanent state; beings pass away. The impermanent body decays. O Udayā, be not heedless! Practice the Dhamma.
Tuổi tác trôi qua, khoảnh khắc cũng vậy, không có gì là bền vững, chúng sanh phải chết đi. Thân thể không thường còn này sẽ già yếu đi. Này Udayā, chớ có dễ duôi, hãy thực hành Chánh pháp.
55.
55.
55.
Kasiṇā pathavī dhanassa pūrā, ekasseva siyā anaññadheyyā;
Tañcāpi jahati † avītarāgo, udaye mā pamāda carassu dhammaṃ.
Though the entire earth, full of wealth, might belong to one person alone, not to be shared with another, even one not free from passion must abandon it. O Udayā, be not heedless! Practice the Dhamma.
Dù cho toàn thể trái đất đầy ắp tài sản thuộc về một người duy nhất, không thể chia sẻ, người chưa ly tham cũng phải từ bỏ nó. Này Udayā, chớ có dễ duôi, hãy thực hành Chánh pháp.
56.
56.
56.
Mātā ca pitā ca bhātaro ca, bhariyā yāpi dhanena hoti kītā †;
Te cāpi jahanti aññamaññaṃ, udaye mā pamāda carassu dhammaṃ.
Mother, father, and brothers, and even the wife who is bought with wealth—they too abandon one another. O Udayā, be not heedless! Practice the Dhamma.
Mẹ, cha, và các anh em, và cả người vợ được mua về bằng tài sản; ngay cả họ cũng phải từ bỏ lẫn nhau. Này Udayā, chớ có dễ duôi, hãy thực hành Chánh pháp.
57.
57.
57.
Kāyo parabhojananti ñatvā †, saṃsāre sugatiñca duggatiñca †;
Ittaravāsoti jāniyāna, udaye mā pamāda carassu dhammaṃ.
Knowing that the body is food for others, and recognizing that the stay in saṃsāra—in good destinations and in bad—is but brief, O Udayā, be not heedless! Practice the Dhamma.
Hãy biết rằng thân này là thức ăn cho kẻ khác, và hãy hiểu rằng trong vòng luân hồi, dù ở thiện thú hay ác thú, cũng chỉ là nơi ở tạm thời. Này Udayā, chớ có dễ duôi, hãy thực hành Chánh pháp.
58.
58.
58.
Sādhu bhāsatiyaṃ † yakkho, appaṃ maccāna jīvitaṃ;
Kasirañca parittañca, tañca dukkhena saṃyutaṃ;
Sāhaṃ ekā pabbajissāmi, hitvā kāsiṃ surundhananti.
“Well has this yakkha spoken! Short is the life of mortals; it is difficult and brief, and conjoined with suffering. I shall go forth alone, leaving Kāsī and Surundhana.”
Vị dạ xoa này nói lời hay thay: 'Mạng sống của người đời thật ngắn ngủi, vừa khốn khổ, vừa ít ỏi, và nó lại còn đi liền với đau khổ.' Ta, một mình, sẽ xuất gia, từ bỏ xứ Kāsi và thành Surundhana.
Udayajātakaṃ catutthaṃ.
The Udaya Jātaka, the fourth.
Chuyện Bổn sanh Udaya, thứ tư.