Bản dịch
JA 457 — Chuyện Thiên Tử Chánh Pháp (Tiền thân Dhamma)
3. Dhammadevaputtajātaka
1557. “Ta là người tạo ra danh tiếng, là người làm việc phước thiện, luôn được các vị Sa-môn và Bà-la-môn khen ngợi. Được chư Thiên và nhân loại tôn vinh, ta xứng đáng với con đường. Này Adhamma (Phi Pháp), ta là Dhamma (Chánh Pháp); ngươi hãy nhường đường.”
1558. “Sau khi đã leo lên chiếc xe tà pháp vững chãi, ta có sức mạnh, không run sợ. Này Dhamma (Chánh Pháp), vì nguyên nhân gì mà hôm nay, ta đây phải nhường cho ngươi con đường trước đây chưa được nhường cho ai?”
1559. “Thật vậy, chánh pháp đã xuất hiện trước, rồi sau đó phi pháp mới sanh khởi ở thế gian. Ta là đàn anh, lớn hơn, và già hơn. Này người trẻ tuổi, hãy đi ra khỏi con đường dành cho người lớn tuổi.”.
1560. “Không phải do cầu xin, cũng không phải do việc hợp lý lẽ, không phải ở sự xứng đáng mà ta có thể nhường đường cho ngươi. Hôm nay, hãy có trận đấu giữa hai chúng ta. Ai sẽ chiến thắng ở trận đấu thì con đường sẽ thuộc về người ấy.”
1561. “Ta là Dhamma (Chánh Pháp) được nổi tiếng ở tất cả các phương, có sức mạnh vĩ đại, có danh tiếng không thể đo lường, không người sánh bằng, có dáng vóc thành tựu tất cả các đức tánh. Này Adhamma (Phi Pháp), ngươi sẽ chiến thắng bằng cách nào?”
1562. “Thật ra, vàng bị đập nện bởi (búa) đồng thau, và người ta không đập nện đồng thau bằng (búa) vàng. Nếu hôm nay Adhamma (Phi Pháp) sẽ tiêu diệt Dhamma (Chánh Pháp), thì sắt có thể được xem như là vàng vậy.”
1563. “Này Adhamma (Phi Pháp), dầu cho ngươi có sức mạnh ở trận đấu, nhưng sự trưởng thượng và kính trọng vẫn không có cho ngươi, còn ta sẽ nhường đường cho ngươi cho dù thích hay không thích. Dẫu sao, ta cũng tha thứ cho ngươi về những lời đã nói sái quấy.”
1564. “Và sau khi nghe lời nói này, Adhamma (Phi Pháp) đã bị rơi xuống, đầu ở phía dưới, chân ở phía trên (trong khi than vãn rằng): ‘Là người mong muốn trận đấu, nhưng tôi không có được trận đấu.’ Adhamma (Phi Pháp) bị chết như thế ấy.
1565. Vị có sức mạnh của sự nhẫn nại đã chiến thắng kẻ có sức mạnh ở trận đấu, sau khi đã giết chết Adhamma (Phi Pháp) và vùi sâu trong lòng đất, vị có sức mạnh vượt trội, có sự nỗ lực về hạnh chân thật, đã vui vẻ bước lên cỗ xe kéo và đã ra đi bằng con đường ấy.
1566. Mẹ và cha, các vị Sa-môn và Bà-la-môn không được tôn kính ở ngôi ngôi nhà riêng của người nào, thì ngay ở nơi này, sau khi rời bỏ cơ thể thân xác, d0 sự hoại rã của thân, chúng di chuyển đến địa ngục, giống như Adhamma (Phi Pháp) đã bị rơi xuống, đầu ở phía dưới.
1567. Mẹ và cha, các vị Sa-môn và Bà-la-môn khéo được tôn kính ở ngôi nhà riêng của người nào, thì ngay ở nơi này, sau khi rời bỏ cơ thể thân xác, d0 sự hoại rã của thân, chúng di chuyển đến chốn an vui, giống như Dhamma (Chánh Pháp) đã bước lên cỗ xe kéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yasokaro puññakarohamasmi, sadātthuto samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Maggāraho devamanussapūjito, dhammo ahaṃ dehi adhamma maggaṃ.
I am a maker of glory and a maker of merit, always praised by ascetics and brahmins. I am Dhamma, worshipped by devas and humans, worthy of the path. O Adhamma, give me the path.
Ta là người tạo ra danh tiếng, người tạo ra công đức, luôn được các Sa-môn, Bà-la-môn tán thán. Ta là Dhamma, được chư thiên và loài người cúng dường, xứng đáng được nhường đường. Này Adhamma, hãy nhường đường cho ta.
27.
27.
27.
Adhammayānaṃ daḷhamāruhitvā, asantasanto balavāhamasmi;
Sa kissa hetumhi tavajja dajjaṃ, maggaṃ ahaṃ dhamma adinnapubbaṃ.
Having firmly mounted the chariot of Adhamma, I am fearless and powerful. For what reason, O Dhamma, should I today give you the path that has never been given before?
Cưỡi trên cỗ xe vững chắc của phi pháp, ta không sợ hãi, ta là kẻ mạnh. Hỡi Dhamma, ta đây vì lý do gì hôm nay lại phải nhường cho ngươi con đường chưa từng được nhường trước đây?
28.
28.
28.
Dhammo have pāturahosi pubbe, pacchā adhammo udapādi loke;
Jeṭṭho ca seṭṭho ca sanantano ca, uyyāhi jeṭṭhassa kaniṭṭha maggā.
Indeed, Dhamma appeared first in the world; afterwards, Adhamma arose. I am the eldest, the most excellent, and the ancient. You are the younger; therefore, withdraw from the path of the eldest.
Quả thật, Chánh Pháp đã xuất hiện trước, Phi Pháp sinh khởi sau ở trên đời. Ta là bậc trưởng thượng, bậc tối thắng, và là bậc vĩnh hằng. Này kẻ sinh sau, hãy tránh khỏi con đường của bậc trưởng thượng.
29.
29.
29.
Na yācanāya napi pātirūpā, na arahatā † tehaṃ dadeyyaṃ maggaṃ;
Yuddhañca no hotu ubhinnamajja, yuddhamhi yo jessati tassa maggo.
Not by begging, nor by propriety, nor by worthiness would I give you the path. Let there be a battle between us two today. Whoever is victorious in battle, his is the path.
Ta sẽ không nhường đường cho ngươi vì lời yêu cầu, cũng không vì sự tương xứng, cũng không vì sự xứng đáng. Hôm nay, hãy có một trận chiến giữa hai chúng ta. Trong trận chiến, ai chiến thắng, con đường sẽ thuộc về người đó.
30.
30.
30.
Sabbā disā anuvisaṭohamasmi, mahabbalo amitayaso atulyo;
Guṇehi sabbehi upetarūpo, dhammo adhamma tvaṃ kathaṃ vijessasi.
I am renowned in all directions, of great strength, of limitless glory, and without equal. Endowed with all virtues, I am Dhamma. O Adhamma, how will you conquer me?
Ta lan tỏa khắp mọi phương hướng, có sức mạnh vĩ đại, danh tiếng vô lượng, không ai sánh bằng. Ta có đầy đủ mọi phẩm hạnh. Này Adhamma, làm sao ngươi có thể chiến thắng?
31.
31.
31.
Lohena ve haññati jātarūpaṃ, na jātarūpena hananti lohaṃ;
Sace adhammo hañchati † dhammamajja, ayo suvaṇṇaṃ viya dassaneyyaṃ.
Indeed, gold is struck by iron; iron is not struck by gold. If Adhamma should strike Dhamma today, it would be just as iron strikes beautiful gold.
Quả thật, vàng bị sắt phá hủy, người ta không dùng vàng để phá hủy sắt. Nếu hôm nay phi pháp sẽ phá hủy chánh pháp, thì cũng như sắt phá hủy vàng ròng đẹp đẽ vậy.
32.
32.
32.
Sace tuvaṃ yuddhabalo adhamma †, na tuyha vuḍḍhā † ca garū ca atthi;
Maggañca te dammi piyāppiyena, vācāduruttānipi te khamāmi.
Adhamma, if you are strong for battle, you have neither elders nor respected ones; I give you the path, whether you are dear or not, and I forgive even your harsh words.
Này Adhamma, nếu ngươi mạnh về chiến trận, thì hẳn là ngươi không có bậc trưởng thượng hay bậc đáng kính. Ta nhường đường cho ngươi, dù yêu hay ghét, và ta cũng tha thứ cho những lời nói thô ác của ngươi.
33.
33.
33.
Idañca sutvā vacanaṃ adhammo, avaṃsiro patito uddhapādo;
‘‘Yuddhatthiko ce na labhāmi yuddhaṃ’’, ettāvatā hoti hato adhammo.
And hearing these words, Adhamma fell head down with his feet up, lamenting, 'If I, a battle-seeker, do not get a battle!' By that much, Adhamma was slain.
Nghe những lời này, Adhamma ngã xuống, đầu cắm xuống đất, chân chổng lên trời, (than rằng): ‘Ta muốn chiến đấu mà lại không được chiến đấu’. Chỉ với chừng ấy, Adhamma đã bị đánh bại.
34.
34.
34.
Khantībalo yuddhabalaṃ vijetvā, hantvā adhammaṃ nihanitva † bhūmyā;
Pāyāsi vitto † abhiruyha sandanaṃ, maggeneva atibalo saccanikkamo.
He whose strength is patience conquered the force of battle. Having slain Adhamma and struck him to the ground, he departed glad, mounting his chariot. Very powerful and of truthful endeavor, he proceeded along the path.
Người có sức mạnh của sự nhẫn nại, sức mạnh phi thường, sự tinh tấn chân chính, đã chiến thắng sức mạnh chiến trận, đã đánh bại Adhamma, chôn y xuống đất, rồi hoan hỷ lên cỗ xe của mình và tiếp tục đi theo con đường.
35.
35.
35.
Mātā pitā samaṇabrāhmaṇā ca, asammānitā yassa sake agāre;
Idheva nikkhippa sarīradehaṃ, kāyassa bhedā nirayaṃ vajanti te †;
Yathā adhammo patito avaṃsiro.
Those in whose own home mother and father, ascetics, and brahmins are not honored—they, having laid down the bodily frame right here, go to hell at the breakup of the body, just as Adhamma fell head down.
Người nào mà trong nhà của mình, cha, mẹ, các Sa-môn và Bà-la-môn không được tôn kính, những người ấy, sau khi từ bỏ thân xác này ngay tại đây, sau khi thân hoại, đi về cõi địa ngục, giống như Adhamma đã ngã xuống với đầu cắm đất.
36.
36.
36.
Mātā pitā samaṇabrāhmaṇā ca, susammānitā yassa sake agāre;
Idheva nikkhippa sarīradehaṃ, kāyassa bhedā sugatiṃ vajanti te;
Yathāpi dhammo abhiruyha sandananti.
Those in whose own home mother and father, ascetics, and brahmins are well honored—they, having laid down the bodily frame right here, go to a good destination at the breakup of the body, just as Dhamma proceeded, having mounted his chariot.
Người nào mà trong nhà của mình, cha, mẹ, các Sa-môn và Bà-la-môn được tôn kính đúng mực, những người ấy, sau khi từ bỏ thân xác này ngay tại đây, sau khi thân hoại, đi về cõi thiện thú, giống như Dhamma đã lên cỗ xe của mình.
Dhammadevaputtajātakaṃ † tatiyaṃ.
The Dhammadevaputta Jātaka, the third.
Chuyện Bổn sanh Thiên tử Dhamma, thứ ba.