Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 456

Bản dịch

JA 456Chuyện Vương Tử Nguyệt Quang (Tiền thân Junha)

2. Juṇhajātaka

1544. “Tâu vị chúa của loài người, xin bệ hạ hãy lắng nghe lời nói của tôi. Tôi đã tìm đến nơi này với mục đích gặp Juṇha. Tâu vị đứng đầu của loài hai chân, người đời đã nói rằng: ‘Khi vị Bà-la-môn là người đi đường xa đang đứng ở bên đường, thì không nên bỏ đi.’”

1545. “Này Bà-la-môn, trẫm nghe, và trẫm đứng lại, vậy ngài hãy nói. Vì mục đích gì mà ngài đã tìm đến nơi này? Hoặc trong khi ước nguyện điều gì ở trẫm, mà ngài đã đi đến nơi đây? Này Bà-la-môn, ngài hãy nói ra điều ấy đi.”

1546. “Xin bệ hạ hãy ban cho tôi năm ngôi làng hạng nhất, một trăm nữ tỳ, bảy trăm con bò cái, và hơn một ngàn đồng tiền vàng. Và xin bệ hạ hãy ban cho tôi hai người vợ tương đương về dòng tộc.”

1547. “Này Bà-la-môn, phải chăng sự khắc khổ của ngài có hình thức khủng khiếp? Này Bà-la-môn, phải chăng chú thuật của ngài có hình thức đa dạng? Và có nhiều Dạ-xoa trung thành với ngài? Hay ngài biết chắc điều lợi ích gì đã được làm cho trẫm?”

1548. “Không có sự khắc khổ đối với tôi, và cũng không có chú thuật. Luôn cả các Dạ-xoa trung thành với tôi cũng không có . Tôi không biết chắc điều lợi ích gì đã được làm cho bệ hạ. Nhưng trước đây, bệ hạ đã có dịp gặp gỡ với tôi.”

1549. “Theo như trẫm biết thì lần gặp này là lần đầu tiên. Trẫm không biết chắc đã có lần gặp trước đây. Được trẫm hỏi, xin ngài hãy nói về việc ấy. Sự gặp gỡ của chúng ta đã xảy ra khi nào, hay ở đâu?”

1550. “Tâu bệ hạ, chúng ta đã sống ở Takkasilā, thành phố đáng yêu của đức vua Gandhāra. Tại nơi ấy, trong bóng tối dày đặc vào ban đêm, chúng ta đã va chạm nhau, vai sát vai.

1551. Tâu vị chúa của loài người, cả hai chúng ta đã đứng tại nơi ấy. Chúng ta đã trao đổi lời giao hẹn với nhau tại nơi ấy. Chính lúc ấy đã là dịp gặp gỡ của chúng ta, không có lần nào khác sau đó, trước đó cũng đã không có."

1552. “Này Bà-la-môn, ở giữa loài người, vào bất cứ lúc nào, có được sự gặp gỡ với bậc thiện nhân, các vị sáng suốt không phủ nhận sự gặp gỡ (phút chốc) hay sự thân thiết (lâu dài), hoặc luôn cả việc ân nghĩa trước đây.

1553. Còn những kẻ ngu phủ nhận sự gặp gỡ (phút chốc) hay sự thân thiết (lâu dài), hoặc luôn cả việc ân nghĩa trước đây. Thậm chí nhiều việc đã được làm cho những kẻ ngu vẫn bị quên lãng, bởi vì những kẻ ngu có bản chất vô ơn như thế ấy.

1554. Và những người sáng trí không phủ nhận sự gặp gỡ (phút chốc) hay sự thân thiết (lâu dài), hoặc luôn cả việc ân nghĩa trước đây. Dầu ít việc đã được làm cho những người sáng trí cũng không bị quên lãng, bởi vì những người sáng trí có bản chất nhớ ơn tốt đẹp như thế ấy.

1555. Trẫm ban cho ngài năm ngôi làng hạng nhất, một trăm nữ tỳ, bảy trăm con bò cái, và hơn một ngàn đồng tiền vàng. Trẫm ban cho ngài hai người vợ tương đương về dòng tộc.”

1556. “Tâu bệ hạ, sau khi đi đến gặp gỡ những người tốt là như vậy. Tựa như mặt trăng, đức vua của các vì sao, được tròn đầy, tâu vị chúa tể của xứ Kāsi, tương tự như thế tôi được đầy đủ, bởi vì hôm nay cuộc gặp gỡ giữa tôi với bệ hạ đã được đạt đến.”