Bản dịch
JA 454 — Chuyện Trí Giả Ghata (Tiền thân Ghata)
16. Ghaṭapaṇḍitajātaka
1517. “Tâu Kaṇha, xin bệ hạ hãy đứng lên. Việc gì bệ hạ lại nằm? Có lợi ích gì với ngài ở giấc chiêm bao? Các cơn gió khuấy động người em trai ruột, trái tim và con mắt phải của bệ hạ. Tâu Kesava, Ghata nói lảm nhảm.”
1518. Sau khi nghe lời nói ấy của cận thần Rohiṇeyya ấy, đức vua Kesava, bị khổ sở bởi nỗi sầu muộn về người em trai, đã vùng dậy với vẻ vội vã.
1519. “Có phải em, với dáng vẻ giống như người điên, (đi lang thang) khắp cổng thành này, lải nhải rằng: ‘Con thỏ, con thỏ.’ Thế người nào đã lấy đi con thỏ của em?
1520. Con thỏ của em làm bằng vàng, bằng ngọc ma-ni, bằng đồng, bằng bạc, bằng vỏ sò, đá cuội, hay san hô, trẫm sẽ bảo làm con thỏ cho em.
1521. Cũng có những con thỏ khác ở trong khu rừng, kiếm ăn ở trong rừng; trẫm sẽ cho đem chúng đến cho em. Em muốn con thỏ loại như thế nào?”
1522. “Nhưng em không muốn con thỏ ấy, những con thỏ nương náu ở trái đất. Em muốn con thỏ từ mặt trăng. Anh Kesava, anh hãy mang nó xuống cho em.”
1523. “Này người bà con, đúng là em đây sẽ lìa bỏ cuộc sống ngọt ngào; em mong mỏi vật không thể mong mỏi, em muốn con thỏ từ mặt trăng.”
1524. “Này anh Kaṇha, nếu anh biết là như vậy thì anh mới nên khuyên bảo người khác như thế; tại sao đến bây giờ anh vẫn sầu muộn về đứa con trai đã chết trước đây?
1525. Việc nào không thể đạt được bởi con người hoặc ngay cả phi nhân (như là): ‘Mong rằng đứa con trai đã được sanh ra của tôi đừng chết,’ do đâu mà điều không thể đạt được sẽ trở nên đạt được?
1526. Này anh Kaṇha, không thể đưa người quá vãng mà anh sầu muộn trở về bằng chú thuật, bằng thuốc men từ rễ cây, bằng các thần dược, hoặc bằng tài sản.”
1527. “Mong sao trẫm có được những người cộng sự, những người sáng suốt như thế này, giống như con người sáng suốt Ghata hôm nay có thể làm cho bừng tỉnh.
1528. Quả thật, trong khi trẫm đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
1529. Khi trẫm bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của trẫm, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của trẫm.
1530. Trẫm đây, có mũi tên đã được rút ra, có sự sầu muộn đã được xa lìa, không bị vẩn đục. Này chàng trai, sau khi lắng nghe em, trẫm không sầu muộn, không khóc lóc.”
1531. Những bậc có trí tuệ hành xử như thế, họ là những bậc có lòng thương tưởng; các vị giúp cho vượt qua nỗi sầu muộn, tựa như Ghata (đã làm) đối với người anh trai vậy.
16. Bổn Sanh Ghata Sáng Suốt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Uṭṭhehi kaṇha kiṃ sesi, ko attho supanena te;
Yo ca tuyhaṃ sako bhātā, hadayaṃ cakkhu ca † dakkhiṇaṃ;
Tassa vātā balīyanti, sasaṃ jappati † kesavā’’ti.
“Arise, Kaṇha, why do you sleep? What use is sleep to you? Your own brother, who is your heart and right eye, is afflicted by winds; O Kesava, he mutters ‘hare!’”
Hãy trỗi dậy, hỡi Kaṇha! Vì sao ngài nằm ngủ? Việc ngủ nghỉ có ích lợi gì cho ngài? Người em ruột của ngài, người được xem như là trái tim và mắt phải, người ấy đang bị gió làm cho đau đớn. Hỡi Kesava, người ấy đang lẩm bẩm ‘con thỏ’.
208.
208.
208.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, rohiṇeyyassa kesavo;
Taramānarūpo vuṭṭhāsi, bhātusokena aṭṭito.
Having heard those words of Rohiṇeyya, Kesava, distressed by grief for his brother, rose up quickly.
Sau khi nghe lời nói ấy của Rohiṇeyya, vua Kesava, bị sầu muộn vì người em trai hành hạ, đã vội vã đứng dậy.
209.
209.
209.
‘‘Kiṃ nu ummattarūpova, kevalaṃ dvārakaṃ imaṃ;
Saso sasoti lapasi, kīdisaṃ sasamicchasi.
“Why, like one who is mad, do you wander through this entire city of Dvārakā, babbling ‘Hare, hare!’? What kind of hare do you desire?”
Tại sao ngươi lại giống như người điên, đi khắp kinh thành Dvārakā này, miệng thì nói ‘con thỏ, con thỏ’? Ngươi muốn loại thỏ như thế nào?
210.
210.
210.
‘‘Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ, lohamayaṃ atha rūpiyamayaṃ;
Saṅkhasilāpavāḷamayaṃ, kārayissāmi te sasaṃ.
“One made of gold, of jewels, of copper, or of silver; made of conch, crystal, or coral—I will have a hare made for you.”
Bằng vàng, bằng ngọc, bằng đồng, hay bằng bạc, bằng vỏ ốc, pha lê, san hô, ta sẽ cho làm một con thỏ cho ngươi.
211.
211.
211.
‘‘Santi aññepi sasakā, araññavanagocarā;
Tepi te ānayissāmi, kīdisaṃ sasamicchasī’’ti.
“There are other hares too, who roam in the forest and wilderness. I will bring them to you—what kind of hare do you desire?”
Cũng có những con thỏ khác, sống trong rừng, đi lại trong rừng. Ta sẽ mang chúng đến cho ngươi. Ngươi muốn loại thỏ như thế nào?
212.
212.
212.
‘‘Nāhamete sase icche, ye sasā pathavissitā;
Candato sasamicchāmi, taṃ me ohara kesavā’’ti.
“I do not desire these hares that dwell on the earth; I desire the hare from the moon—bring that to me, O Kesava.”
Tôi không muốn những con thỏ này, những con thỏ sống trên mặt đất. Tôi muốn con thỏ từ mặt trăng. Hỡi Kesava, hãy mang nó xuống cho tôi.
213.
213.
213.
‘‘So nūna madhuraṃ ñāti, jīvitaṃ vijahissasi;
Apatthiyaṃ patthayasi, candato sasamicchasī’’ti.
“Surely, kinsman, you will abandon your sweet life. You desire the undesirable; you desire the hare from the moon.”
Hỡi người bà con, chắc chắn ngươi sẽ từ bỏ mạng sống ngọt ngào của mình. Ngươi đang mong muốn điều không thể mong muốn, ngươi muốn con thỏ từ mặt trăng.
214.
214.
214.
‘‘Evaṃ ce kaṇha jānāsi, yathaññamanusāsasi;
Kasmā pure mataṃ puttaṃ, ajjāpi manusocasi.
“If you know this, O Kaṇha, as you instruct another, why do you still grieve today for your son who died previously?”
Hỡi Kaṇha, nếu ngài biết như vậy, như cách ngài đang khuyên dạy người khác, tại sao ngài vẫn còn sầu muộn cho đến ngày nay về người con trai đã chết trước đây?
215.
215.
215.
‘‘Na yaṃ labbhā manussena, amanussena vā pana;
Jāto me mā mari putto, kuto labbhā alabbhiyaṃ.
“That which cannot be obtained by a human, nor even by a non-human—‘May my son, once born, not die’—how can the unobtainable be obtained?”
Điều mà con người, hay cả phi nhân, không thể đạt được là: ‘Mong cho con trai đã sanh ra của tôi đừng chết.’ Làm sao có thể đạt được điều không thể đạt được?
216.
216.
216.
‘‘Na mantā mūlabhesajjā, osadhehi dhanena vā;
Sakkā ānayituṃ kaṇha, yaṃ petamanusocasi.
“Not by spells, root medicines, or herbs, nor by wealth, is it possible to bring back, O Kaṇha, the departed one for whom you grieve.”
Hỡi Kaṇha, người đã chết mà ngài đang sầu muộn không thể được mang trở lại bằng thần chú, bằng thuốc rễ cây, bằng dược thảo, hay bằng của cải.