Bản dịch
JA 450 — Chuyện phú ông keo kiệt Bilàri (Tiền thân Bilàri-Kosiya)
12. Bilārakosiyajātaka
1477. “Những người tốt vẫn mong muốn bố thí, mặc dầu chưa nấu chín vật thực đã có được, vậy thì tại sao ông không muốn cho trong khi đang nấu chín (thức ăn), việc ấy là không đúng đắn đối với ông?
1478. Như vậy, vật thí không được cho ra do sự bỏn xẻn và do sự xao lãng. Người có sự nhận thức, trong khi mong mỏi phước báu, nên thực hành bố thí.
1479. “Bị sợ hãi về sự đói và sự khát mà kẻ bỏn xẻn không bố thí; chính nỗi sợ hãi ấy có ở kẻ không bố thí. Kẻ bỏn xẻn sợ hãi về sự đói và sự khát, chính việc ấy đáp trả lại kẻ ngu ở đời này và ở đời sau.
1480. Vì thế, người chiến thắng tật xấu nên dẹp bỏ tánh bỏn xẻn, nên ban phát vật thí. Các phước báu là nơi nương nhờ của chúng sanh trong đời vị lai.
1481. “Trong khi họ cho vật khó cho, trong khi họ làm công việc khó làm, những kẻ xấu không làm theo được; pháp của những người tốt là khó đạt đến.
1482. Vì thế, cảnh giới tái sanh sau kiếp này dành cho những người tốt và những kẻ không tốt là khác nhau, những kẻ không tốt đi địa ngục, những người tốt có sự đi đến cõi trời.”
1483. “Một số người dầu có ít vẫn ban phát, một số khác có nhiều nhưng không bố thí. Sự cúng dường được dâng hiến (với đức tin) dầu ít ỏi, được xác định tương đương với một ngàn lần (sự bố thí bình thường).
1484. “Thậm chí người nào sống nhờ vào việc lượm lặt, cũng nên thực hành thiện pháp, ngay trong lúc chu cấp vợ và con, vẫn hành pháp bố thí mặc dầu ít ỏi. Các sự cúng tế một trăm ngàn đồng tiền của một ngàn kẻ chủ tế không giá trị bằng một phần mười sáu pháp bố thí của người như thế ấy.”
1485. “Vì sao sự cúng tế vĩ đại, có giá trị lớn, không sánh bằng giá trị của việc bố thí đúng pháp? Tại sao các sự cúng tế một trăm ngàn đồng tiền của một ngàn kẻ chủ tế không giá trị bằng một phần mười sáu pháp bố thí của người như thế ấy?”
1486. “Bởi vì, một số người đã tham dự vào việc bất công, đã thiêu đốt, đã chém giết, đã gây nên sự sầu muộn, rồi hành pháp bố thí; việc cúng dường ấy có khuôn mặt đẫm nước mắt, có gậy gộc, không sánh bằng giá trị của việc bố thí đúng pháp; tương tự như thế, các sự cúng tế một trăm ngàn đồng tiền của một ngàn kẻ chủ tế không giá trị bằng một phần mười sáu pháp bố thí của người như thế ấy.”
12. Bổn Sanh Triệu Phú Biḷārakosiya.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Apacantāpi dicchanti, santo laddhāna bhojanaṃ;
Kimeva tvaṃ pacamāno, yaṃ na dajjā na taṃ samaṃ.
Good people, having obtained food, wish to give even when they do not cook. What then of you, who are cooking? That you do not give is not proper.
Bậc thiện nhân dù không nấu nướng, vẫn muốn bố thí vật thực nhận được. Cớ sao ông, người có nấu nướng, lại không bố thí? Việc không bố thí ấy là không thích hợp.
126.
126.
126.
Maccherā ca pamādā ca, evaṃ dānaṃ na diyyati;
Puññaṃ ākaṅkhamānena, deyyaṃ hoti vijānatā.
It is from stinginess and negligence that a gift is not given. But one desiring merit, one who understands, should give.
Do keo kiệt và do phóng dật, như vậy việc bố thí không được thực hiện. Người có trí, mong cầu phước báu, thì nên bố thí.
127.
127.
127.
Yasseva bhīto na dadāti maccharī, tadevādadato bhayaṃ;
Jighacchā ca pipāsā ca, yassa bhāyati maccharī;
Tameva bālaṃ phusati, asmiṃ loke paramhi ca.
That which the stingy person fears, and therefore does not give, becomes the very fear for the non-giver. The hunger and thirst that the stingy person fears—that very thing afflicts the fool, both in this world and in the next.
Người keo kiệt không bố thí vì sợ hãi điều gì, chính điều ấy là nỗi sợ cho người không bố thí. Người keo kiệt sợ hãi sự đói và khát nào, chính sự đói khát ấy chạm đến kẻ ngu si, ở đời này và cả đời sau.
128.
128.
128.
Tasmā vineyya maccheraṃ, dajjā dānaṃ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṃ, patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.
Therefore, having removed stinginess, one should give a gift, having overcome that stain. Merits are a support for living beings in the next world.
Do vậy, sau khi nhiếp phục tính keo kiệt, người chiến thắng cấu uế nên thực hành bố thí. Các phước báu là nơi nương tựa cho chúng sanh ở đời sau.
129.
129.
129.
131.
131.
131.
Appasmeke † pavecchanti, bahuneke na dicchare;
Appasmā dakkhiṇā dinnā, sahassena samaṃ mitā.
Some give from a little, while others, though possessing much, do not wish to give. An offering given from a little is considered equal to a thousand.
Một số người cho đi từ cái ít ỏi, một số người có nhiều lại không muốn cho. Của cúng dường được cho đi từ cái ít ỏi, được xem là tương đương với (vật thí) một ngàn.
132.
132.
132.
Dhammaṃ care yopi samuñchakaṃ care, dārañca posaṃ dadamappakasmiṃ †;
Sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ, kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.
One who lives righteously, even if living by gleaning, who supports his wife and gives from the little he has—the sacrifices of a hundred thousand who sacrifice a thousandfold are not worth a fraction of that of such a person.
Người nào sống đúng Chánh pháp, người nào sống bằng cách lượm lặt, và người nào nuôi dưỡng vợ con mà vẫn bố thí từ cái ít ỏi của mình; những sự cúng tế của trăm ngàn người dâng cúng cả ngàn (vật thí) cũng không bằng một phần nhỏ của người như vậy.
133.
133.
133.
Kenesa yañño vipulo mahagghato †, samena dinnassa na agghameti;
Kathaṃ sataṃ sahassānaṃ † sahassayāginaṃ, kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.
Why is this vast and costly sacrifice not worth as much as a gift given justly? How is it that the sacrifices of a hundred thousand who sacrifice a thousandfold are not worth a fraction of that of such a person?
Vì sao sự cúng tế to lớn, giá trị này lại không bằng vật thí được cho một cách chân chính? Làm sao mà sự cúng tế của trăm ngàn người dâng cúng cả ngàn (vật thí) lại không bằng một phần nhỏ của người như vậy?
134.
134.
134.
Dadanti heke visame niviṭṭhā, chetvā † vadhitvā atha socayitvā;
Sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā, samena dinnassa na agghameti;
Evaṃ sataṃ sahassānaṃ † sahassayāginaṃ, kalampi nāgghanti tathāvidhassa teti.
Some give while established in unrighteousness, after having cut, killed, and caused sorrow. Such an offering, given with tearful faces and accompanied by force, is not worth as much as a gift given justly. Thus, the sacrifices of a hundred thousand who sacrifice a thousandfold are not worth a fraction of that of such a person.
Một số người, an trú trong sự bất chính, bố thí sau khi đã chém, giết, rồi làm cho (người khác) sầu muộn. Của cúng dường ấy, (làm cho người khác) mặt đẫm lệ, đi cùng với hình phạt, không bằng vật thí được cho một cách chân chính. Như vậy, sự cúng tế của trăm ngàn người dâng cúng cả ngàn (vật thí) cũng không bằng một phần nhỏ của người như vậy.
Bilārakosiyajātakaṃ dvādasamaṃ.
The Bilārakosiya Jātaka, the twelfth.
Chuyện Bổn Sanh Bilārakosiya, thứ mười hai.