Bản dịch
JA 449 — Chuyện Nam Tử Đeo V òng Tai (Tiền thân Matta-Kundali)
11. Maṭṭhakuṇḍalījātaka
1467. “Ngươi đã được trang điểm, có bông tai đã được đánh bóng, có mang tràng hoa, có thoa trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều gì?”
1468. “Khung xe làm bằng vàng, rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không tìm ra cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đau ấy, tôi từ bỏ mạng sống.”
1469. “Nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng đồng, hay làm bằng bạc? Ngươi hãy nói ra, ta sẽ cho người làm chiếc xe cho ngươi. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt được cặp bánh xe.”
1470. Người thanh niên ấy đã nói với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời là anh em; cỗ xe của tôi làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
1471. “Này người thanh niên, ngươi quả thật khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi vì ngươi sẽ không đạt được mặt trăng và mặt trời.”
1472. “Việc đi và đến (của mặt trăng và mặt trời) còn được nhìn thấy. Ở đây, màu sắc và bản chất, lộ trình của cả hai được biết đến. Trái lại, người đã qua đời không được nhìn thấy. Vậy thì trong hai người đang khóc lóc, người nào khờ dại hơn?”
1473. “Này người thanh niên, quả nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc, chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đã qua đời, ví như đứa bé trai đang khóc đòi mặt trăng.”
1474. “Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
1475. Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên đã cắm vào trái tim của tôi.
1476. Tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có sự sầu muộn đã được xa lìa, không bị vẩn đục. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi, tôi không sầu muộn, không khóc lóc.”
11. Bổn Sanh Thiên Tử Maṭṭakuṇḍali.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
† ‘‘Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī †, māladhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi, vanamajjhe kiṃ dukkhito tuva’’nti.
Adorned, wearing polished earrings, garlanded, smeared with red sandalwood; raising your arms, you wail. Why are you so sorrowful in the middle of the forest?
“Này chàng trai, được trang điểm, đeo hoa tai bóng láng, mang vòng hoa, thoa đàn hương vàng, sao ngươi lại giơ tay than khóc giữa rừng, phải chăng ngươi đang đau khổ vì điều gì?”
1208.
1208.
1208.
‘‘Sovaṇṇamayo pabhassaro, uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṃ na vindāmi, tena dukkhena jahāmi † jīvita’’nti.
A golden, radiant chariot-frame has arisen for me. I do not find a pair of wheels for it; because of that sorrow, I shall give up my life.
“Một khung xe bằng vàng, rực rỡ, đã hiện ra cho tôi. Nhưng tôi không tìm được một cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đó, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
1209.
1209.
1209.
‘‘Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ, lohitakamayaṃ † atha rūpiyamayaṃ;
Ācikkha † me bhaddamāṇava, cakkayugaṃ paṭipādayāmi te’’ti.
Do you wish for a pair of wheels made of gold, of jewels, of rubies, or of silver? Tell me, good youth, and I will provide a pair of wheels for you.
“Bằng vàng, bằng ngọc, bằng hồng ngọc, hay bằng bạc? Hãy cho ta biết, này chàng trai tốt, ta sẽ sắm cho ngươi một cặp bánh xe.”
1210.
1210.
1210.
So māṇavo tassa pāvadi, ‘‘candimasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama, tena cakkayugena sobhatī’’ti.
That youth said to him: “Here, both the sun and moon are seen; my golden chariot would be beautiful with that pair of wheels.”
Chàng trai ấy nói với vị kia: “Cả mặt trăng và mặt trời đều được thấy ở đây. Cỗ xe bằng vàng của tôi sẽ trở nên lộng lẫy với cặp bánh xe ấy.”
1211.
1211.
1211.
‘‘Bālo kho tvaṃ asi māṇava, yo tvaṃ patthayase apatthiyaṃ;
Maññāmi tuvaṃ marissasi, na hi tvaṃ lacchasi candimasūriye’’ti.
You are a fool indeed, youth, for you desire what is unobtainable. I think you will die, for you will not get the sun and moon.
“Này chàng trai, ngươi thật là ngu ngốc, khi mong muốn điều không thể mong muốn. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết, chứ ngươi sẽ không thể có được mặt trăng và mặt trời.”
1212.
1212.
1212.
‘‘Gamanāgamanampi dissati, vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto † kālakato na dissati, ko nidha kandataṃ bālyataro’’ti.
Their coming and going is seen, and the nature of their appearance in their path. But the one who is dead and gone is not seen. Among us who weep here, who is the more foolish?
“Sự đi và đến của cả hai đều được thấy, và sắc tướng của chúng trên quỹ đạo cũng vậy. Nhưng người chết, người đã qua đời, thì không còn được thấy nữa. Trong số chúng ta đang than khóc ở đây, ai là người ngu ngốc hơn?”
1213.
1213.
1213.
‘‘Saccaṃ kho vadesi māṇava, ahameva kandataṃ bālyataro;
Candaṃ viya dārako rudaṃ, petaṃ kālakatābhipatthayi’’nti.
Truly you speak, youth. Of us who weep, I am indeed the more foolish. Like a child crying for the moon, I longed for one who is dead and gone.
“Này chàng trai, ngươi nói thật vậy. Trong số những người đang than khóc, chính ta mới là kẻ ngu ngốc hơn. Giống như đứa trẻ khóc đòi mặt trăng, ta đã mong mỏi người chết, người đã qua đời.”
1214.
1214.
1214.
‘‘Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
I was burning, indeed, like a fire fed with ghee; you, as if sprinkling it with water, have extinguished all my distress.
“Ôi, ta đang bừng cháy như ngọn lửa được tưới thêm dầu, ngươi đã dập tắt mọi phiền muộn của ta, như người ta dùng nước để dập lửa.
1215.
1215.
1215.
‘‘Abbahī † vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa, puttasokaṃ apānudi.
You have indeed drawn out the dart for me—the sorrow rooted in my heart—you who have removed the sorrow for my son from me, one overcome by grief.
“Ôi, ngươi đã nhổ mũi tên sầu muộn cắm trong tim ta. Ngươi, người đã xua tan nỗi sầu con của ta, kẻ đang bị sầu muộn dày vò.
1216.
1216.
1216.
‘‘Svāhaṃ abbūḷhasallosmi, sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi, vata sutvāna māṇavāti.
I am one whose dart has been drawn out; I have become cooled, quenched. I do not grieve, I do not weep, indeed, having heard you, youth.
Này chàng thanh niên, ta đã nhổ mũi tên (sầu muộn), đã trở nên mát lạnh, đã được dập tắt. Nghe lời nói của con, ta không sầu, không khóc.