Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 448

Bản dịch

JA 448Chuyện Kê Vương (Tiền thân Kukuta)

10. Kukkuṭajātaka

1456. “Không nên tin cậy người làm ác, không nên tin cậy người nói không thật, không nên tin cậy người chỉ biết lợi ích của bản thân, thậm chí không nên tin cậy người quá an tịnh.

1457. Thật vậy, có nhiều người có bản tính thèm khát của loài bò. Tôi nghĩ rằng họ làm vui lòng các bạn bè bằng lời nói mà không bằng hành động.

1458. Những người chìa ra bàn tay khô khan, che đậy bằng lời nói, là những người vô tích sự, không nên thân cận hạng người không có sự biết ơn.

1459. Không nên thiết lập sự giao thiệp chặt chẽ với những người nữ, hoặc với những người nam có tâm thay đổi, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy.

1460. Người phạm đến hành động không thánh thiện, (có lời nói) không quả quyết, là người giết hại tất cả (khi đạt được cơ hội), tựa như giươm bén được che đậy, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy.

1461. Ở đây, một số người với vẻ ngoài bạn bè, với lời nói trau chuốt nhưng không phải tự tâm, theo nhiều phương thức khác nhau, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy.

1462. Kẻ như thế ấy nhìn thấy thức ăn hay tài sản ở nơi nào, kẻ ngu muội ấy lập kế chống đối, đốt cháy vật ấy, rồi bỏ đi.”

1463. “Với vẻ ngoài bạn bè, nhiều kẻ thù giấu diếm (bản chất xấu xa), rồi thân cận; nên rời khỏi những con người tồi tệ này, tựa như con gà trống rời khỏi chim diều hâu.

1464. Và người nào không mau chóng nhận biết sự việc đã sanh khởi, rồi đi theo sự khống chế của kẻ thù, về sau sẽ hối tiếc.

1465. Và người nào mau chóng nhận chân sự việc đã sanh khởi, người ấy thoát khỏi sự ngược đãi của kẻ thù, tựa như con gà trống thoát khỏi chim diều hâu.

1466. Người khôn ngoan nên tránh né thật xa kẻ như thế ấy, kẻ không đạo đức, thường xuyên gây ra sự phá hoại, tựa như tránh né cái bẫy đã được trương ra ở trong rừng, giống như con gà trống tránh né chim diều hâu ở trong khu rừng tre rậm.”

10. Bổn Sanh Con Gà Trống.