Bản dịch
JA 444 — Chuyện Hắc Nhân Dìpàyana (Tiền thân Kanhadìpàyana)
6. Kaṇhadīpāyanajātaka
1414. “Là người mong mỏi phước báu, có tâm tịnh tín, tôi đã thực hành Phạm hạnh trong bảy ngày. Rồi việc thực hành khác nữa của tôi là năm mươi năm về thiền định. Mặc dầu không có sự mong muốn, tôi cũng vẫn thực hành (Phạm hạnh). Do sự chân thật này, cầu mong có sự an lành, chất độc được tiêu tan, bé trai Yaññadatta hãy sống.”
1415. “Mặc dù tôi không bao giờ thích thú việc bố thí khi tôi nhìn thấy người khách lạ vào thời điểm họ đi tìm chỗ ngụ, và ngay cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn học rộng cũng đã không biết được tâm trạng không ưa thích của tôi. Mặc dầu không có sự mong muốn, tôi cũng vẫn bố thí. Do sự chân thật này, cầu mong có sự an lành, chất độc được tiêu tan, con trai Yaññadatta hãy sống.”
1416. “Này con thương, con rắn độc có nhiều oai lực đã cắn con sau khi phóng ra khỏi hang, và tâm trạng không ưa thích của mẹ ngày hôm nay đối với con rắn cũng như đối với cha con là không có gì khác biệt. Do sự chân thật này, cầu mong có sự an lành, chất độc được tiêu tan, con trai Yaññadatta hãy sống.”
1417. “Các bậc an tịnh, đã được rèn luyện, xuất gia (lìa thế tục), không có vẻ là không mong muốn, ngoại trừ vị Kaṇhā. Thưa ngài Dīpāyana, trong khi ngài chán ghét, không mong muốn (việc tu tập), vì lý do gì ngài vẫn thực hành Phạm hạnh?”
1418. “Sau khi ra đi vì niềm tin, kẻ nào quay trở lại (cuộc sống thế tục), kẻ ấy tựa như người điếc và câm; người này quả thật là kẻ ngu si! Bởi vì lời nói ấy, trong khi ta chán ghét, không mong muốn (việc tu tập), ta vẫn thực hành Phạm hạnh. Còn có sự ca ngợi của những người hiểu biết và địa vị dành cho những người tốt; dầu là như vậy, ta cũng là người tạo được nghiệp thiện.
1419. Ông đã làm hài lòng các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn, và các khách lữ hành về vật thực với cơm ăn và nước uống. Và ngôi nhà này của ông có hình thức như là cái giếng nước đầy đủ cơm ăn và nước uống. Vậy thì, bởi vì lời nói gì mà trong khi ông chán ghét, không mong muốn (việc bố thí), ông vẫn ban phát việc bố thí này?”
1420. “Cha và ông nội của tôi đã là những người có niềm tin, đã là những người thí chủ rộng lượng. Trong khi tiếp nối truyền thống ấy của gia tộc, chớ để tôi trở thành kẻ hủ bại nhất trong gia tộc! Bởi vì lời nói ấy, trong khi tôi chán ghét, không mong muốn (việc bố thí), tôi vẫn ban phát việc bố thí này.”
1421. “Hỡi cô nàng có cơ thể xinh xắn, ta đã rước nàng, người thiếu nữ trẻ trung có trí tuệ còn chưa đầy đủ, từ thân quyến gia tộc. Nàng cũng đã không cho biết về tình trạng không yêu mến đối với ta, trong khi nàng hầu hạ ta không có sự mong muốn. Vậy bởi vì lý do gì mà tình trạng sống chung của nàng với ta đã có hình thức như vậy?”
1422. “Từ thời xa xưa, không bao giờ có việc gọi là thay đổi chồng ở gia tộc này. Trong khi tiếp nối truyền thống ấy của gia tộc, chớ để thiếp trở thành kẻ kẻ hủ bại nhất trong gia tộc! Bởi vì lời nói ấy, trong khi thiếp chán ghét, không mong muốn, thiếp vẫn là người làm công việc hầu hạ đối với chàng.
1423. Này chàng Maṇḍavya, thiếp đã nói lời không nên nói. Mong chàng hãy tha thứ điều ấy cho thiếp hôm nay vì nguyên nhân của đứa con trai. Ở đây, không có bất cứ cái gì khác so với tình thương dành cho đứa con trai. Lời nói ấy đối với chúng ta là Yaññadatta này được sống.”
6. Bổn Sanh Ẩn Sĩ Kaṇhadīpāyana.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yasmā dānaṃ nābhinandiṃ kadāci, disvānahaṃ atithiṃ vāsakāle;
Na cāpi me appiyataṃ aveduṃ, bahussutā samaṇabrāhmaṇā ca.
Because I never once delighted in giving, and having seen a guest arrive to stay, I did not delight. And yet, the learned ascetics and brahmins did not know of my displeasure.
Bởi vì tôi chưa bao giờ hoan hỷ trong việc bố thí, khi thấy khách đến nhà, tôi không hoan hỷ. Và cả những vị Sa-môn và Bà-la-môn đa văn cũng không biết sự không hài lòng của tôi.
Akāmako vāpi ahaṃ dadāmi, etena saccena suvatthi hotu;
Hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.
I give, though unwillingly. By this truth, may there be well-being! May the poison be destroyed! May Yaññadatta live!
Tôi bố thí mà không có mong muốn. Mong rằng nhờ lời chân thật này, được an lành. Mong chất độc được tiêu trừ, mong Yaññadatta được sống.
64.
64.
64.
Āsīviso tāta pahūtatejo, yo taṃ adaṃsī † sacarā † udicca;
Tasmiñca me appiyatāya ajja, pitari ca te natthi koci viseso;
Etena saccena suvatthi hotu, hataṃ visaṃ jīvatu yaññadatto.
Dear son, the venomous snake with great power that, having emerged from its lair, bit you—today, for me, in the matter of dislike, there is no difference whatsoever between that snake and your father. By this truth, may there be well-being! May the poison be destroyed! May Yaññadatta live!
Này con, con rắn độc có nọc rất mạnh, con rắn đã cắn con sau khi ra khỏi hang của nó. Hôm nay, đối với ta, không có sự khác biệt nào trong việc không yêu mến giữa con rắn đó và cha của con. Mong rằng nhờ lời chân thật này, được an lành. Mong chất độc được tiêu trừ, mong Yaññadatta được sống.
65.
65.
65.
Santā dantāyeva † paribbajanti, aññatra kaṇhā natthākāmarūpā †;
Dīpāyana kissa jigucchamāno, akāmako carasi brahmacariyaṃ.
Being peaceful and tamed, they go forth into homelessness; except for Kaṇha, they are not of an unwilling nature. O Dīpāyana, disgusted by what do you practice the noble life so unwillingly?
Những người xuất gia đều là những người an tịnh và tự chế. Ngoại trừ Kaṇha, không có ai không hoan hỷ. Này Dīpāyana, vì chán ghét điều gì mà ngài thực hành phạm hạnh một cách không mong muốn?
66.
66.
66.
Saddhāya nikkhamma punaṃ nivatto, so eḷamūgova bālo † vatāyaṃ;
Etassa vādassa jigucchamāno, akāmako carāmi brahmacariyaṃ;
Viññuppasatthañca satañca ṭhānaṃ †, evampahaṃ puññakaro bhavāmi.
Being disgusted by such criticism as: 'Having gone forth in faith, he has returned again! This one is like a deaf-mute, truly a fool!'—I practice the noble life unwillingly. It is praised by the wise and is the state of the good; thus I become a maker of merit.
'Xuất gia với đức tin rồi lại hoàn tục, người này thật là kẻ ngu si, câm điếc.' Vì chán ghét lời chỉ trích này, tôi thực hành phạm hạnh một cách không mong muốn. Đời sống này được người trí tán thán và là nơi ở của bậc thiện nhân, như vậy, tôi trở thành người làm phước.
67.
67.
67.
Samaṇe tuvaṃ brāhmaṇe addhike ca, santappayāsi annapānena bhikkhaṃ;
Opānabhūtaṃva gharaṃ tava yidaṃ, annena pānena upetarūpaṃ;
Atha kissa vādassa jigucchamāno, akāmako dānamimaṃ dadāsi.
You satisfy ascetics, brahmins, and travelers with food, drink, and alms. This house of yours is like a watering-place, endowed with food and drink. Then, being disgusted by what criticism do you give this gift unwillingly?
Ông làm cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn và khách lữ hành được hài lòng với vật thực và đồ uống. Ngôi nhà này của ông giống như một hồ nước công cộng, đầy đủ vật thực và đồ uống. Vậy thì, vì chán ghét lời chỉ trích nào mà ông thực hiện việc bố thí này một cách không mong muốn?
68.
68.
68.
Pitaro ca me āsuṃ pitāmahā ca, saddhā ahuṃ dānapatī vadaññū;
Taṃ kullavattaṃ anuvattamāno, māhaṃ kule antimagandhano † ahuṃ;
Etassa vādassa jigucchamāno, akāmako dānamimaṃ dadāmi.
My parents and my grandparents were faithful, they were masters of giving, they were generous. Following that family tradition, lest I become the last and lowest in the family line, and being disgusted by such criticism, I give this gift unwillingly.
Cha và ông của tôi đều là những người có đức tin, là những thí chủ rộng lượng. Noi theo truyền thống gia đình đó, mong rằng tôi không trở thành người cuối cùng trong gia tộc. Vì chán ghét lời chỉ trích này, tôi thực hiện việc bố thí này một cách không mong muốn.
69.
69.
69.
Dahariṃ kumāriṃ asamatthapaññaṃ, yaṃ tānayiṃ ñātikulā sugatte;
Na cāpi me appiyataṃ avedi, aññatra kāmā paricārayantā †;
Atha kena vaṇṇena mayā te bhoti, saṃvāsadhammo ahu evarūpo.
O lady of beautiful form, you whom I brought from your relatives' home as a young maiden with immature wisdom—even while serving me, apart from any love, you never let me know of my unloved state. Then, for what reason, O lady, was there this way of living together with me?
Hỡi người có thân hình xinh đẹp, ta đã cưới nàng từ gia đình của nàng khi nàng còn là một thiếu nữ trẻ trung, trí tuệ chưa phát triển. Nàng cũng không cho ta biết sự không hài lòng của nàng, khi phục vụ ta mà không có tình yêu. Vậy thì, hỡi nàng, vì lý do gì mà đời sống chung của chúng ta lại như thế này?
70.
70.
70.
Ārā dūre nayidha kadāci atthi, paramparā nāma kule imasmiṃ;
Taṃ kullavattaṃ anuvattamānā, māhaṃ kule antimagandhinī ahuṃ;
Etassa vādassa jigucchamānā, akāmikā paddhacarāmhi † tuyhaṃ.
Far back in the past, there has never been in this family a woman who went from one man to another. Following that family tradition, lest I become the last and lowest woman in the family line, and being disgusted by such criticism, I serve at your feet unwillingly.
Thưa phu quân, từ xưa đến nay, trong gia tộc này chưa từng có người phụ nữ nào bỏ chồng theo người khác. Noi theo truyền thống gia đình đó, mong rằng thiếp không trở thành người cuối cùng trong gia tộc. Vì chán ghét lời chỉ trích này, thiếp phục vụ dưới chân chàng mà không có mong muốn.
71.
71.
71.
Maṇḍabya bhāsiṃ yamabhāsaneyyaṃ †, taṃ khamyataṃ puttakahetu majja;
Puttapemā na idha paratthi kiñci, so no ayaṃ jīvati yaññadattoti.
O Maṇḍabya, what should not have been spoken, I have spoken for the sake of my son. Please forgive me for that today. Apart from love for my son, there is nothing else here. That Yaññadatta, our son, now lives.
Này Maṇḍabya, tôi đã nói điều không nên nói. Hôm nay, xin hãy tha thứ cho tôi, tôi nói vậy là vì con trai. Ở đây không có gì khác ngoài tình thương con. Yaññadatta, con trai của chúng ta, nó đang sống.
Kaṇhadīpāyanajātakaṃ † chaṭṭhaṃ.
The Kaṇhadīpāyana Jātaka, the Sixth.
Chuyện Tiền Thân Kaṇhadīpāyana là thứ sáu.