Bản dịch
JA 443 — Chuyện Trí Giả Tiểu Bồ Đề (Tiền thân Culla-Bodhi)
5. Cūḷabodhijātaka
1401. “Thưa vị Bà-la-môn, nếu có người dùng võ lực bắt đem đi người phụ nữ có mắt to, đáng yêu, có nụ cười thân thiện của ngài, thì ngài có thể làm gì?”
1402. “Nếu nó khởi lên ở tôi thì nó không thể thoát ra, nó không thể thoát ra khỏi tôi chừng nào tôi còn sống. Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, tôi có thể chặn đứng nó vô cùng nhanh chóng.”
1403. “Điều mà ngài đã khoe khoang trước đây, dường như đã được dựa vào sức mạnh. Hôm nay, ngài đây là người im lặng. Giờ này, ngài ngồi may y hai lớp.”
1404. “Nó đã khởi lên ở tôi và đã không thoát ra, nó đã không thoát ra khỏi tôi chừng nào tôi còn sống. Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, tôi đã chặn đứng nó vô cùng nhanh chóng.”
1405. “Cái gì đã khởi lên ở ngài và đã không thoát ra? Cái gì đã không thoát ra khỏi ngài chừng nào ngài còn sống? Tựa như cơn mưa lớn dập tắt bụi bặm, ngài đã chặn đứng cái gì?”
1406. “Cái nào khi khởi lên thì con người không nhìn thấy, khi không khởi lên thì con người nhìn thấy rõ ràng, cái ấy là sự giận dữ; nó đã khởi lên ở tôi và đã không thoát ra, nó có đối tượng là những kẻ ngu muội.
1407. Do cái nào khởi lên mà những kẻ thù, những kẻ tìm kiếm sự khổ đau, được hân hoan, cái ấy là sự giận dữ; nó đã khởi lên ở tôi và đã không thoát ra, nó có đối tượng là những kẻ ngu muội.
1408. Và khi cái nào đang được khởi lên khiến con người không còn nhận biết việc có sự lợi ích, cái ấy là sự giận dữ; nó đã khởi lên ở tôi và đã không thoát ra, nó có đối tượng là những kẻ ngu muội.
1409. Bị chế ngự bởi cái nào, con người từ bỏ việc thiện, và còn bỏ bê việc lợi ích lớn lao, cái ấy có đạo quân ghê rợn, là kẻ hủy diệt có sức mạnh, là sự giận dữ, tâu đại vương, nó đã không thoát ra khỏi tôi.
1410. Khi thanh gỗ đang được cọ xát thì có cái gọi là lửa sanh ra. Chính cái ấy đốt cháy thanh gỗ, từ đó, nó sanh ra ngọn lửa.
1411. Tương tự như vậy, sự giận dữ khởi lên từ sự nóng nảy của kẻ đần độn, ngu dốt, không nhận thức, kẻ ngu dốt ấy cũng bị đốt nóng bởi chính sự giận dữ.
1412. Ví như ngọn lửa gia tăng ở cỏ và củi, kẻ nào có sự giận dữ gia tăng, thì danh tiếng của kẻ ấy bị sút giảm, tựa như mặt trăng thuộc hạ huyền bị khuyết dần.
1413. Ví như ngọn lửa không có nhiên liệu, người nào có sự giận dữ được yên lặng, thì danh tiếng của người ấy trở nên đầy đủ, tựa như mặt trăng thuộc thượng huyền được tròn dần.”
5. Bổn Sanh Tiểu Giác Ngộ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yo te imaṃ visālakkhiṃ, piyaṃ samhitabhāsiniṃ †;
Ādāya balā gaccheyya, kiṃ nu kayirāsi brāhmaṇa.
If someone were to take away by force this dear, wide-eyed wife of yours who speaks so pleasantly, what would you do, brahmin?
Hỡi vị Bà-la-môn, nếu có kẻ nào dùng vũ lực bắt đi người vợ đáng yêu, mắt to tròn, nói năng nhỏ nhẹ này của ngài, thì ngài sẽ làm gì?
50.
50.
50.
Uppajje † me na mucceyya, na me mucceyya jīvato;
Rajaṃva vipulā vuṭṭhi, khippameva nivāraye †.
Should it arise in me, it would not be released; it would not be released from me while I live. Like a great rain settling the dust, I would quickly restrain it.
Cơn giận có thể khởi lên trong tôi, nhưng nó sẽ không thoát ra; khi tôi còn sống, nó sẽ không thoát ra khỏi tôi. Giống như cơn mưa lớn làm tan bụi, tôi sẽ nhanh chóng dập tắt nó.
51.
51.
51.
Yaṃ nu pubbe vikatthittho †, balamhiva apassito;
Svajja tuṇhikato † dāni, saṅghāṭiṃ sibbamacchasi.
You who boasted before, as if relying on your strength, are now today reduced to silence, sitting and sewing your outer robe.
Điều mà trước đây ngài đã khoe khoang, như thể dựa vào sức mạnh của mình; sao hôm nay ngài lại im lặng, chỉ ngồi may vá y tăng-già-lê?
52.
52.
52.
Uppajji me na muccittha, na me muccittha jīvato;
Rajaṃva vipulā vuṭṭhi, khippameva nivārayiṃ.
It arose in me, but it was not released; it was not released from me while I live. Like a great rain settling the dust, I quickly restrained it.
Cơn giận đã khởi lên trong tôi, nhưng nó đã không thoát ra; khi tôi còn sống, nó đã không thoát ra. Giống như cơn mưa lớn làm tan bụi, tôi đã nhanh chóng dập tắt nó.
53.
53.
53.
Kiṃ te uppajji no mucci, kiṃ te na mucci jīvato;
Rajaṃva vipulā vuṭṭhi, katamaṃ tvaṃ nivārayi.
What arose in you but was not released? What was not released from you while you live? Like a great rain settling the dust, what was it that you restrained?
Cái gì đã khởi lên trong ngài mà không thoát ra? Cái gì đã không thoát ra khỏi ngài khi ngài còn sống? Giống như cơn mưa lớn làm tan bụi, ngài đã dập tắt điều gì?
54.
54.
54.
Yamhi jāte na passati, ajāte sādhu passati;
So me uppajji no mucci, kodho dummedhagocaro.
When it has arisen, one does not see; when it has not arisen, one sees well. That which arose in me but was not released was anger, the pasture of the foolish.
Khi nó khởi lên, người ta không thấy được; khi nó không khởi lên, người ta thấy rõ. Cơn giận ấy, đối tượng của kẻ ngu si, đã khởi lên trong tôi nhưng không thoát ra ngoài.
55.
55.
55.
Yena jātena nandanti, amittā dukkhamesino;
So me uppajji no mucci, kodho dummedhagocaro.
That by whose arising enemies rejoice, those who wish one suffering—that which arose in me but was not released was anger, the pasture of the foolish.
Khi nó khởi lên, những kẻ thù mong cầu đau khổ liền vui mừng. Cơn giận ấy, đối tượng của kẻ ngu si, đã khởi lên trong tôi nhưng không thoát ra ngoài.
56.
56.
56.
Yasmiñca jāyamānamhi, sadatthaṃ nāvabujjhati;
So me uppajji no mucci, kodho dummedhagocaro.
That which, when it is arising, prevents one from understanding one's own welfare—that which arose in me but was not released was anger, the pasture of the foolish.
Khi nó đang khởi lên, người ta không hiểu được lợi ích của chính mình. Cơn giận ấy, đối tượng của kẻ ngu si, đã khởi lên trong tôi nhưng không thoát ra ngoài.
57.
57.
57.
Yenābhibhūto kusalaṃ jahāti, parakkare vipulañcāpi atthaṃ;
Sa bhīmaseno balavā pamaddī, kodho mahārāja na me amuccatha.
That by which being overcome one abandons the wholesome and ruins one's own great welfare; that with its fearsome army, powerful and crushing—that anger, O great king, was not released from me.
Bị nó chế ngự, người ta từ bỏ điều thiện, và hủy hoại cả lợi ích to lớn. Tâu Đại vương, cơn giận ấy, với đạo quân đáng sợ, mạnh mẽ và có sức tàn phá, đã không thoát ra khỏi tôi.
58.
58.
58.
Kaṭṭhasmiṃ matthamānasmiṃ †, pāvako nāma jāyati;
Tameva kaṭṭhaṃ ḍahati, yasmā so jāyate gini.
When a fire-stick is being drilled, fire is born; and it burns that very fire-stick from which the fire is born.
Khi khúc gỗ được cọ xát, lửa được sinh ra; và nó đốt cháy chính khúc gỗ ấy, nơi mà ngọn lửa được sinh ra.
59.
59.
59.
Evaṃ mandassa posassa, bālassa avijānato;
Sārambhā † jāyate kodho, sopi teneva ḍayhati.
Even so, for a dull person, a fool who does not understand, anger is born from contention, and he himself is burned by it.
Cũng vậy, đối với người ngu dốt, kẻ khờ dại, người không hiểu biết, cơn giận sinh ra từ sự tranh chấp, và người ấy bị chính nó thiêu đốt.
60.
60.
60.
Aggīva tiṇakaṭṭhasmiṃ, kodho yassa pavaḍḍhati;
Nihīyati tassa yaso, kāḷapakkheva candimā.
For one in whom anger grows like a fire in grass and sticks, their fame wanes like the moon in the dark fortnight.
Người nào mà cơn giận tăng trưởng như lửa trên cỏ và củi khô, danh tiếng của người ấy bị suy giảm, như mặt trăng trong tuần trăng khuyết.
61.
61.
61.
Anedho † dhūmaketūva, kodho yassūpasammati;
Āpūrati tassa yaso, sukkapakkheva candimāti.
For one whose anger is calmed, like a fire without fuel, their fame waxes full like the moon in the bright fortnight.
Người nào mà cơn giận được lắng dịu như ngọn lửa không có nhiên liệu, danh tiếng của người ấy được viên mãn, như mặt trăng trong tuần trăng tròn.
Cūḷabodhijātakaṃ pañcamaṃ.
The Cūḷabodhi Jātaka, the Fifth.
Bổn sanh Cūḷabodhi, câu chuyện thứ năm.