Bản dịch
JA 440 — Chuyện Hắc Hiền Giả (Tiền thân Kanha)
2. Kaṇhajātaka
1364. “Người này quả thật có màu da đen, ăn thức ăn màu đen (trái cây), sống ở mảnh đất màu đen, tâm ý của ta không yêu mến (người này).”
1365. “Thưa Thiên Chủ Sujampati, đen không phải là bởi màu da, bởi vì cái phẩm chất bên trong mới là Bà-la-môn. Ở kẻ nào có các việc làm ác, chính kẻ ấy là đen.”
1366. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1367. “Thưa Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, tôi mong ước rằng tôi có thói quen là không còn giận dữ, không còn sân hận, không tham lam, không yêu thương; tôi có bốn ước muốn này.”
1368. “Này Bà-la-môn, vậy ông nhận thấy điều bất lợi gì ở sự giận dữ, ở sự sân hận, ở sự tham lam, và ở sự yêu thương? Được hỏi, xin ông hãy giải thích điều ấy cho ta.”
1369. “Sự giận dữ sanh lên từ sự không nhẫn nại. Nó khởi đầu thì ít rồi trở thành nhiều, và nó tăng trưởng, không có sự quyến luyến, có nhiều ưu phiền; vì thế, tôi không ưa thích sự giận dữ.
1370. Người bị bực bội thì có lời nói thô lỗ, kế liền là sự va chạm, sau đó là bàn tay, rồi đến gậy gộc, giải pháp sau cùng là của vũ khí. Sân hận có nguồn sanh khởi là sự giận dữ; vì thế, tôi không ưa thích sự sân hận.
1371. Các biểu hiện bạo lực ở sự cướp giựt, sự tráo trở, và các sự gian lận được nhìn thấy ở các pháp tham lam; vì thế, tôi không ưa thích sự tham lam.
1372. Các sự trói buộc được trói buộc chung với sự yêu thương, được tạo thành bởi ý, tiềm ẩn ở các đối tượng riêng biệt, chúng gây bực bội một cách mãnh liệt; vì thế, tôi không ưa thích sự yêu thương.”
1373. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1374. “Thưa Thiên Chủ Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, đối với tôi là người đang sống ở trong rừng, thường xuyên độc cư, mong rằng các bệnh hoạn chớ sanh khởi, các tác nhân gây ra chướng ngại chẳng có nhiều.”
1375. “Do điều ấy đã được ông khéo nói, đã được ông khéo thuyết, là điều thích đáng, này Bà-la-môn, ta sẽ ban cho ông một ân huệ về bất cứ điều gì ông mong muốn ở trong tâm.”
1376. “Thưa Thiên Chủ Sakka, thưa vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ân huệ, thưa Thiên Chủ Sakka, không do tôi là nguyên nhân làm cho ý nghĩ hoặc cơ thể (thân và khẩu) của bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào, có thể bị tổn thương. Thưa Sakka, điều này là sự ước muốn về điều ân huệ.”
2. Bổn Sanh Ẩn Sĩ Kaṇha.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kaṇho vatāyaṃ puriso, kaṇhaṃ bhuñjati bhojanaṃ;
Kaṇhe bhūmipadesasmiṃ, na mayhaṃ manaso piyo.
Indeed, this man is dark; he eats dark food on a dark patch of ground. He is not dear to my mind.
Ôi, người này thật đen đúa, ăn thức ăn màu đen trên một vùng đất đen, không làm vừa lòng ta.
12.
12.
12.
Na kaṇho tacasā hoti, antosāro hi brāhmaṇo;
Yasmiṃ pāpāni kammāni, sa ve kaṇho sujampati.
One is not dark because of one’s skin; a brahmin is one who is complete with the essence within. He in whom evil deeds are found, he, O husband of Sujā, is truly the dark one.
Này Sujampati, người ta không đen do màu da, vị Bà-la-môn có cốt lõi bên trong; người nào có những hành vi tội lỗi, người đó thật sự là đen.
13.
13.
13.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ brāhmaṇa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
O brahmin, for this well-spoken, fitting, and eloquent utterance, I grant you a boon. Ask for whatever you desire in your mind.
Này Bà-la-môn, vì lời nói hay, thích hợp, khéo nói này của ngài, ta ban cho ngài một ân huệ, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
14.
14.
14.
Varañce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Sunikkodhaṃ suniddosaṃ, nillobhaṃ vuttimattano;
Nisnehamabhikaṅkhāmi, ete me caturo vare.
If you would grant me a boon, O Sakka, ruler of all beings, I desire my way of being to be completely without anger, completely without malice, without greed, and without affection. Grant me these four boons.
Này Sakka, chúa tể của mọi chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một ân huệ; tôi mong muốn lối sống cho bản thân là không sân hận, không ác ý, không tham lam, không ái luyến; đây là bốn ân huệ của tôi.
15.
15.
15.
Kiṃ nu kodhe vā † dose vā, lobhe snehe ca brāhmaṇa;
Ādīnavaṃ tvaṃ passasi †, taṃ me akkhāhi pucchito.
O brahmin, what disadvantage do you see in anger or in malice, in greed and in affection? Being asked, declare it to me.
Hỡi Bà-la-môn, ngài thấy sự nguy hại nào trong sân hận, trong ác ý, trong tham lam và trong ái luyến? Khi được hỏi, xin hãy nói cho tôi biết điều đó.
16.
16.
16.
Appo hutvā bahu hoti, vaḍḍhate so akhantijo;
Āsaṅgī bahupāyāso, tasmā kodhaṃ na rocaye.
O Vāsava, though small at first, it becomes great; born of intolerance, it grows. It is clinging and full of distress; therefore, I do not approve of anger.
Từ ít, nó trở thành nhiều, nó tăng trưởng do không nhẫn nại; Gây ra dính mắc và nhiều phiền não, vì vậy, tôi không thích sân hận.
17.
17.
17.
Duṭṭhassa pharusā † vācā, parāmāso anantarā;
Tato pāṇi tato daṇḍo, satthassa paramā gati †;
Doso kodhasamuṭṭhāno, tasmā dosaṃ na rocaye.
For the malicious person, there is harsh speech, and immediately after, physical assault. Then the hand, then the stick; the final resort is the sword. Malice is born of anger; therefore, I do not approve of malice.
Ác ý sinh ra từ sân hận; người có ác ý nói lời thô ác, ngay sau đó là sự xúc phạm; rồi đến tay, rồi đến gậy, và cuối cùng là gươm đao; vì vậy, tôi không thích ác ý.
18.
18.
18.
Ālopasāhasākārā †, nikatī vañcanāni ca;
Dissanti lobhadhammesu, tasmā lobhaṃ na rocaye.
O Māghava, plundering and violence, cheating and deception, are seen in things connected with greed. Therefore, I do not approve of greed.
Cướp bóc và hành vi bạo lực, sự lừa đảo và gian dối; được thấy trong những kẻ có tính tham lam, vì vậy, tôi không thích tham lam.
19.
19.
19.
Snehasaṅgathitā † ganthā, senti manomayā puthū;
Te bhusaṃ upatāpenti, tasmā snehaṃ na rocaye.
O Sakka, the many mind-made bonds, knit together by affection, are pervasive. They severely torment beings; therefore, I do not approve of affection.
Những trói buộc được kết lại bởi ái luyến, nhiều thứ do tâm tạo ra, chúng tồn tại; Chúng gây phiền não dữ dội, vì vậy, tôi không thích ái luyến.
20.
20.
20.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ brāhmaṇa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and eloquent utterance of yours, O brahmin, I grant you a boon: whatever you desire in your mind.
Này Bà-la-môn, vì lời nói hay, thích hợp, khéo nói này của ngài, ta ban cho ngài một ân huệ, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
21.
21.
21.
Varañce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Araññe me viharato, niccaṃ ekavihārino;
Ābādhā mā † uppajjeyyuṃ, antarāyakarā bhusā.
If you will grant me a boon, O Sakka, lord of all beings, may no serious, obstructive afflictions arise in me as I dwell always in solitude in the forest.
Này Sakka, chúa tể của mọi chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một ân huệ; Khi tôi sống trong rừng, luôn sống một mình, mong rằng những bệnh tật, những trở ngại tai hại, sẽ không phát sinh.
22.
22.
22.
Etasmiṃ te sulapite, patirūpe subhāsite;
Varaṃ brāhmaṇa te dammi, yaṃ kiñci manasicchasi.
For this well-spoken, fitting, and eloquent utterance of yours, O brahmin, I grant you a boon: whatever you desire in your mind.
Này Bà-la-môn, vì lời nói hay, thích hợp, khéo nói này của ngài, ta ban cho ngài một ân huệ, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
23.
23.
23.
Varañce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Na mano vā sarīraṃ vā, maṃ-kate sakka kassaci;
Kadāci upahaññetha, etaṃ sakka varaṃ vareti.
If you will grant me a boon, O Sakka, ruler of all beings, may neither the mind nor the body of anyone ever be harmed on my account. This, O Sakka, is the boon I choose.
Này Sakka, chúa tể của mọi chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi một ân huệ; Này Sakka, mong rằng tâm hay thân của bất kỳ ai sẽ không bao giờ bị tổn hại vì nguyên nhân do tôi; Này Sakka, tôi chọn ân huệ này.
Kaṇhajātakaṃ dutiyaṃ.
The Kaṇha Jātaka, the second.
Chuyện Kaṇha, thứ hai.