Bản dịch
JA 434 — Chuyện Chim Hồng Nga (Tiền thân Cakkavàka)
8. Cakkavākajātaka
1310. “Ta nói với các con chim có bộ lông màu vàng cam, từng đôi, từng cặp, với tâm ý vui vẻ, đang du ngoạn rằng: ‘Này các bạn chim, thiên hạ ca ngợi loài chim nào, dòng dõi nào ở giữa loài người,? Vậy, xin các bạn hãy nói về điều ấy.’”
1311. “Này con chim gây hại cho loài người, thiên hạ ca ngợi loài hồng hạc chúng tôi là xứng đáng. Chúng tôi được công nhận là có bản thể tốt đẹp trong số các loài chim. Với dáng vóc không bị kinh sợ, chúng tôi du ngoạn ở trong hồ nước.”
1312. “Các bạn ăn các loại trái cây gì ở hồ nước? Này các chim hồng hạc, các bạn nhai thịt của những sinh vật nào? Này loài thú thượng đẳng, các bạn thọ dụng thức ăn gì mà các bạn có sức mạnh, sắc đẹp, và không phải là không có vóc dáng?”
1313. “Không phải các loại trái cây có ở hồ nước, này chim quạ, do đâu mà có việc nhai thịt đối với loài chim hồng hạc? Chúng tôi có thực phẩm là rong rêu, có thức ăn là vật không có vỏ cứng. Chúng tôi không tạo ra việc ác vì nguyên nhân vật thực.”
1314. “Việc này của loài chim hồng hạc không làm ta thích thú, là thức ăn và vóc dáng ở đời sống này. Thức ăn của của ta giờ đây phải đổi khác so với thức ăn của ta đã có trước đây, sự hoài nghi của ta về điều này đã được sanh lên y như thế ấy.
1315. Ta cũng ăn các loại thịt, các loại trái cây, các loại cơm có muối và dầu ăn. Ta nhận lãnh để thọ dụng thức ăn có khẩu vị của loài người, tựa như người dũng sĩ chiến thắng ở tuyến đầu của trận đánh. Này chim hồng hạc, vóc dáng như thế ấy của ta không giống như là của bạn được.”
1316. “Ngươi có thức ăn không trong sạch, có sự đeo đuổi cơ hội, thức ăn nước uống của ngươi đạt được một cách khó khăn. Này quạ, ngươi không vui thích với các trái cây, hoặc các loại thịt ở giữa bãi tha ma.
1317. Kẻ nào đạt được các của cải bằng bạo lực, rồi thọ dụng, này quạ, là kẻ có sự đeo đuổi cơ hội. Về sau, tự bản thân (kẻ ấy) khiển trách kẻ ấy. Bị khiển trách, kẻ ấy đánh rơi sắc đẹp và sức mạnh.
1318. Nếu chỉ có chút ít (thức ăn), nếu thọ hưởng sự bình yên, không do bạo lực, không có sự hãm hại người khác, khi ấy sắc đẹp và sức mạnh sẽ có cho người này, bởi vì không phải toàn bộ sắc đẹp chi do mỗi vật thực tạo thành.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kāsāyavatthe sakuṇe vadāmi, duve duve nandamane † carante;
Kaṃ aṇḍajaṃ aṇḍajā mānusesu, jātiṃ pasaṃsanti tadiṅgha brūtha.
I ask you birds, clad in ochre, who move about rejoicing in pairs: O egg-born ones, when people praise you, by what species name do they praise you? Come now, tell me of that species.
Ta hỏi các loài chim có bộ lông màu vàng sẫm, đang đi từng đôi, vui vẻ bên nhau. Hỡi các loài sinh ra từ trứng, loài người tán dương các ngươi là loài chim gì? Hãy nói cho ta biết giống loài ấy.
70.
70.
70.
Amhe manussesu manussahiṃsa, anubbate † cakkavāke vadanti;
Kalyāṇabhāvamhe † dijesu sammatā, abhirūpā † vicarāma aṇṇave. ( ) †
O harmer of humans, among men they call us Cakkavākas, who are faithful to one another. We are esteemed among the twice-born as being of a good nature; we wander upon the water, being of excellent form.
Hỡi loài hay làm hại người, giữa loài người, họ gọi chúng tôi là chim Cakkavāka, loài chim chung thủy. Giữa các loài chim, chúng tôi được xem là có bản tánh tốt lành. Chúng tôi đi lại trong hồ với hình dáng xinh đẹp.
71.
71.
71.
Kiṃ aṇṇave kāni phalāni bhuñje, maṃsaṃ kuto khādatha cakkavākā;
Kiṃ bhojanaṃ bhuñjatha vo anomā †, balañca vaṇṇo ca anapparūpā †.
O Cakkavākas, what fruits do you eat upon the water? From where do you eat meat? What food do you eat, that your strength and complexion are excellent and of no small measure?
Hỡi chim Cakkavāka, các ngươi ăn những loại quả gì trong hồ? Các ngươi ăn thịt từ đâu? Các ngươi ăn thức ăn gì mà sức lực và màu sắc của các ngươi không suy giảm, và hình dáng lại tuyệt vời như vậy?
72.
72.
72.
Na aṇṇave santi phalāni dhaṅka, maṃsaṃ kuto khādituṃ cakkavāke;
Sevālabhakkhamha † apāṇabhojanā †, na ghāsahetūpi karoma pāpaṃ.
O crow, there are no fruits upon the water. From where would there be meat for a Cakkavāka to eat? We eat moss, a food without living beings; we do no evil, not even for the sake of sustenance.
Hỡi quạ, trong hồ không có trái cây. Chim Cakkavāka lấy đâu ra thịt để ăn? Chúng tôi ăn rong rêu, loại thức ăn không có sinh vật. Chúng tôi không làm điều ác ngay cả vì miếng ăn.
73.
73.
73.
Na me idaṃ ruccati cakkavāka, asmiṃ bhave bhojanasannikāso;
Ahosi pubbe tato me aññathā, icceva me vimati ettha jātā.
This does not please me, O Cakkavāka. I had a thought before that in this existence, one's appearance is like one's food. But it has turned out otherwise. For this very reason, a doubt has arisen in me about this matter.
Hỡi chim Cakkavāka, ta không tin điều này. Trước đây ta đã có suy nghĩ rằng: 'Trong kiếp sống này, (sắc đẹp) là tương ứng với thức ăn'. Nhưng rồi lại khác. Chính vì vậy, nghi ngờ đã nảy sinh trong ta về điều này.
74.
74.
74.
Ahampi maṃsāni phalāni bhuñje, annāni ca loṇiyateliyāni;
Rasaṃ manussesu labhāmi bhottuṃ, sūrova saṅgāmamukhaṃ vijetvā;
Na ca me tādiso vaṇṇo, cakkavāka yathā tava.
I too eat meat, fruits, and foods with salt and oil. I get to eat the delicacies among humans, like a hero having conquered the front line of battle. And yet, O Cakkavāka, my complexion is not such as yours.
Ta cũng ăn thịt, trái cây, và các món ăn có muối và dầu. Ta được ăn những món ngon giữa loài người, như một vị anh hùng chiến thắng nơi trận mạc. Nhưng hỡi chim Cakkavāka, màu sắc của ta không được như của ngươi.
75.
75.
75.
Asuddhabhakkhosi khaṇānupātī, kicchena te labbhati annapānaṃ;
Na tussasī rukkhaphalehi dhaṅka, maṃsāni vā yāni susānamajjhe.
You eat what is impure, O attacker at unguarded moments. Food and drink are obtained by you with difficulty. You are not satisfied with the fruits of trees, O crow; the meats in the midst of the charnel ground are dear to you.
Ngươi là loài ăn đồ ô uế, là loài tấn công bất ngờ. Ngươi khó khăn mới kiếm được đồ ăn thức uống. Hỡi quạ, ngươi không hài lòng với trái cây, mà lại ưa thích thịt thối giữa nghĩa địa.
76.
76.
76.
Yo sāhasena adhigamma bhoge, paribhuñjati dhaṅka khaṇānupātī;
Tato upakkosati naṃ sabhāvo, upakkuṭṭho vaṇṇabalaṃ jahāti.
Whoever, having acquired possessions through violence, enjoys them, O crow, attacker at unguarded moments—his own nature reproaches him for that. Being reproached, he loses his complexion and strength.
Hỡi quạ, loài tấn công bất ngờ, kẻ nào dùng bạo lực để chiếm đoạt tài sản rồi hưởng thụ, chính bản chất của kẻ ấy sẽ khiển trách nó. Bị khiển trách, kẻ ấy sẽ mất đi sắc đẹp và sức mạnh.
77.
77.
77.
Appampi ce nibbutiṃ bhuñjatī yadi, asāhasena aparūpaghātī †;
Balañca vaṇṇo ca tadassa hoti, na hi sabbo āhāramayena vaṇṇoti.
But if one, not harming others, eats even a little that is peacefully obtained, without violence, then he will have strength and complexion. For truly, complexion does not come from food alone.
Nếu người nào không dùng bạo lực, không làm hại kẻ khác, dù chỉ ăn một chút thanh đạm, người ấy sẽ có cả sức mạnh và sắc đẹp. Thật vậy, không phải tất cả sắc đẹp đều do thức ăn mà có.
Cakkavākajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Cakkavāka Jātaka, the eighth.
Chuyện Bổn sanh Cakkavāka, thứ tám.