Bản dịch
JA 432 — Chuyện Cậu Bé Có Tài Nhận Dấu Chân (Tiền thân Padakusalamànava)
6. Padakusalamāṇavajātaka
1290. “Sông Gaṅgā cuốn trôi Pāṭala, nhà thuyết giảng tài hoa, có kiến thức rộng. Tướng công ơi, hỡi người đang bị cuốn trôi, xin chàng hãy ban cho thiếp một bài kệ ngắn.”
1291. “Chúng rưới rắc vật nào cho người bị khổ sở, chúng rưới rắc vật nào cho người bị bệnh, ta sẽ bị chết ở giữa vật ấy; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1292. “Các hạt giống mọc lên ở chỗ nào, các chúng sanh đứng vững ở chỗ nào, cái vật ấy giáng xuống đầu của ta; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1293. “Nhờ vật nào các bữa ăn được nấu chín, nhờ vật nào cái lạnh được tiêu diệt, cái vật ấy đốt cháy các tay chân của ta; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1294. “Đông đảo các Bà-la-môn và Sát-đế-lỵ được nuôi sống nhờ vật nào khi được ăn vào, vật ấy khi được ăn vào gây tai họa cho tôi; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1295. “Vào tháng cuối của mùa nóng, các bậc sáng suốt mong mỏi làn gió, gió ấy bẻ gãy các tay chân của tôi; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1296. Các con chim nương nhờ cây nào, chính cây này phát ra ngọn lửa, các con chim phân tán các phương; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1297. “Cô gái nào có sự vui vẻ, có tràng hoa, có thoa trầm hương mà tôi đã đưa về, cô gái ấy đuổi tôi ra khỏi nhà; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1298. Tôi đã vui mừng khi người nào được sanh ra, và tôi đã mong mỏi sự hiện hữu của người nào, người ấy tống tôi ra khỏi nhà; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
1299. “Hỡi các dân chúng và các thị dân đã tụ tập lại, xin hãy lắng nghe tôi. Cái nào là nước, cái ấy là lửa cháy; từ nơi nào có sự an toàn, từ nơi ấy có sự nguy hiểm.
1300. Đức vua và viên quan tế tự Bà-la- môn bóc lột đất nước, các vị hãy bảo vệ lấy bản thân; sự nguy hiểm sanh lên từ nơi nương tựa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Bahussutaṃ cittakathiṃ †, gaṅgā vahati pāṭaliṃ †;
Vuyhamānaka bhaddante, ekaṃ me dehi gāthakaṃ †.
The Ganges carries away Pāṭali, who is very learned and a skilled speaker. O you who are being swept along, may it be well with you; give me a single verse.
Sông Gaṅgā cuốn trôi Pāṭali, người đa văn, người có tài ăn nói đặc sắc. Này người đang bị cuốn trôi, mong điều lành đến với bạn, hãy cho tôi một bài kệ.
50.
50.
50.
Yena siñcanti dukkhitaṃ, yena siñcanti āturaṃ;
Tassa majjhe marissāmi, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
That water with which they sprinkle the suffering, with which they sprinkle the sick—in its midst I shall die. From what was a refuge, fear has arisen.
Thứ nước mà người ta dùng để tưới tẩm cho người đau khổ, thứ nước mà người ta dùng để tưới tẩm cho người bệnh hoạn; ta sẽ chết ở giữa dòng nước ấy. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
51.
51.
51.
Yattha bījāni rūhanti, sattā yattha patiṭṭhitā;
Sā me sīsaṃ nipīḷeti, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
That earth on which seeds sprout, on which beings are established—she now crushes my head. From what was a refuge, fear has arisen.
Nơi mà hạt giống nảy mầm, nơi mà chúng sanh đứng vững; đất ấy lại đè nén đầu ta. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
52.
52.
52.
Yena bhattāni paccanti, sītaṃ yena vihaññati;
So maṃ ḍahati † gattāni, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
That fire by which meals are cooked, by which cold is dispelled—it now burns my limbs. From what was a refuge, fear has arisen.
Thứ lửa mà người ta dùng để nấu cơm, thứ lửa mà người ta dùng để xua tan cái lạnh; lửa ấy lại thiêu đốt thân ta. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
53.
53.
53.
Yena bhuttena † yāpenti, puthū brāhmaṇakhattiyā;
So maṃ bhutto byāpādeti, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
That food by which many brahmins and khattiyas are sustained—that same food, having been eaten, now kills me. From what was a refuge, fear has arisen.
Thức ăn mà nhiều Bà-la-môn và Sát-đế-lỵ dùng để duy trì mạng sống; thức ăn ấy sau khi ăn vào lại giết chết ta. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
54.
54.
54.
Gimhānaṃ pacchime māse, vātamicchanti paṇḍitā;
So maṃ † bhañjati gattāni, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
In the last month of the hot season, the wise desire the wind; that same wind now breaks my limbs. From what was a refuge, fear has arisen.
Vào tháng cuối của mùa hè, các bậc hiền triết mong muốn có gió; gió ấy lại làm tan nát thân ta. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
55.
55.
55.
Yaṃ nissitā jagatiruhaṃ, svāyaṃ aggiṃ pamuñcati;
Disā bhajatha vakkaṅgā, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
The tree on which we depended, this very one now emits fire. Flee to all directions, O crooked-limbed ones! From our refuge, fear has arisen.
Cây cối trên mặt đất mà chúng ta nương tựa, chính nó lại phát ra lửa. Hỡi các loài chim, hãy bay đi các phương! Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
56.
56.
56.
Yamānayiṃ somanassaṃ, māliniṃ candanussadaṃ;
Sā maṃ gharā nicchubhati †, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
She whom I brought for my delight, garlanded and smeared with sandalwood—she now drives me from the house. From what was a refuge, fear has arisen.
Người phụ nữ mà ta đã vui mừng rước về, người đeo tràng hoa, thoa dầu đàn hương; nàng lại đuổi ta ra khỏi nhà. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
57.
57.
57.
Yena jātena nandissaṃ, yassa ca bhavamicchisaṃ;
So maṃ gharā nicchubhati †, jātaṃ saraṇato bhayaṃ.
He by whose birth I would rejoice, and whose existence I desired—he now drives me from the house. From what was a refuge, fear has arisen.
Đứa con trai mà khi nó sinh ra ta đã vui mừng, đứa con mà ta đã mong nó được hiện hữu; nó lại đuổi ta ra khỏi nhà. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
58.
58.
58.
Suṇantu me jānapadā, negamā ca samāgatā;
Yatodakaṃ tadādittaṃ, yato khemaṃ tato bhayaṃ.
Let the assembled country-folk and town-dwellers listen to me! Where there is water, that is ablaze; where there is safety, from there comes fear.
Xin những người dân quê và thị thành đã tụ họp hãy nghe tôi nói: Nơi nào là nước, nơi đó lại bốc cháy; nơi nào an ổn, từ đó có hiểm nguy.
59.
59.
59.
Rājā vilumpate raṭṭhaṃ, brāhmaṇo ca purohito;
Attaguttā viharatha, jātaṃ saraṇato bhayanti.
The king plunders the kingdom, and the brahmin chaplain as well. Dwell self-guarded. From what was a refuge, fear has arisen.
Nhà vua cướp phá quốc độ, và vị Bà-la-môn tế tự cũng vậy. Các người hãy sống tự bảo vệ mình. Sự nguy hiểm đã phát sinh từ nơi nương tựa.
Padakusalamāṇavajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Padakusalamāṇava Jātaka, the Sixth.
Chuyện Bổn sanh Padakusalamāṇava, thứ sáu.