Bản dịch
JA 431 — Chuyện Nam Tử Hàrita (Tiền thân Hàrita)
5. Haritacajātaka
1281. “Thưa bậc đại Phạm hạnh, có điều này trẫm đã được nghe là: Hārita thọ hưởng dục. Có phải điều ấy là không đúng? Có phải ngài còn trong sạch?”
1282. “Tâu đại vương, điều ấy là như vậy, giống như lời nói đã được bệ hạ nghe. Thần đã đi vào con đường xấu xa, đã bị lầm lạc trong các pháp dẫn đến si mê.”
1283. “Vậy trí tuệ khôn khéo với sự suy nghĩ tốt đẹp có lợi ích gì? Tâm gì không thể xua đuổi sự luyến ái một khi nó đã được sanh khởi?”
1284. “Tâu đại vương, bốn pháp này là mạnh mẽ, có năng lực vượt trội ở thế gian: luyến ái, sân hận, say đắm, si mê; ở nơi ấy, trí tuệ không đứng vững.”
1285. “‘Hārita là bậc A-la-hán, đầy đủ về giới, sống trong sạch, thông minh, và sáng suốt nữa,’ ngài được chúng tôi tôn vinh như thế.”
1286. “Tâu bệ hạ, các ý nghĩ xấu xa, vẻ đẹp kết hợp với sự luyến ái, chúng hãm hại vị ẩn sĩ thông minh, ưa thích giáo pháp và đức hạnh.”
1287. “Điều này được sanh lên từ cơ thể, sự luyến ái làm hư hoại nét rạng rỡ của ngài. Ngài hãy dứt bỏ việc ấy. Mong rằng sự tốt lành hãy có cho ngài. Ngài được nhiều người công nhận là thông minh.”
1288. “Các dục ấy tạo ra sự tăm tối, là các chất độc dữ dội có nhiều khổ đau, thần sẽ tìm kiếm gốc rễ của chúng, sẽ cắt đứt sự luyến ái luôn cả sự trói buộc.”
1289. “Sau khi nói điều này, vị ẩn sĩ Hārita, với sự nỗ lực về pháp chân thật, sau khi dứt trừ sự luyến ái ở các dục, đã là vị đạt đến thế giới Phạm Thiên.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kaccetaṃ vacanaṃ tucchaṃ, kacci suddho iriyyasi.
Is this statement perhaps untrue? Do you conduct yourself in purity?
Phải chăng lời nói đó là vô ích? Phải chăng ngài vẫn sống thanh tịnh?
41.
41.
41.
Evametaṃ mahārāja, yathā te vacanaṃ sutaṃ;
Kummaggaṃ paṭipannosmi, mohaneyyesu mucchito.
It is just so, O great king, as the word was heard by you; being infatuated with deluding things, I have entered upon a wrong path.
Tâu Đại vương, đúng như lời ngài đã nghe; con đã đi vào con đường sai lầm, vì say đắm trong những điều mê hoặc.
42.
42.
42.
Adu † paññā kimatthiyā, nipuṇā sādhucintinī †;
Yāya uppatitaṃ rāgaṃ, kiṃ mano na vinodaye.
Of what use, then, is wisdom, subtle and well-considering, if with it one cannot dispel the lust that has arisen?
Vậy thì trí tuệ tế nhị, hay suy xét điều lành, có ích lợi gì? Tại sao tâm không thể xua tan được tham ái đã khởi lên?
43.
43.
43.
Cattārome mahārāja, loke atibalā bhusā;
Rāgo doso mado moho, yattha paññā na gādhati.
O great king, these four things in the world are exceedingly strong, very powerful: lust, hatred, intoxication, and delusion, wherein wisdom finds no footing.
Tâu Đại vương, có bốn pháp này ở đời rất mạnh mẽ, dữ dội: Tham, sân, say đắm, và si mê, là nơi mà trí tuệ không thể đứng vững.
44.
44.
44.
Arahā sīlasampanno, suddho carati hārito;
Medhāvī paṇḍito ceva, iti no sammato bhavaṃ.
‘An Arahant, accomplished in virtue, Hārita conducts himself with purity; he is wise and also learned’—thus were you esteemed by us.
Ngài Hārita là bậc xứng đáng, đầy đủ giới hạnh, sống đời trong sạch; là bậc có trí tuệ và là bậc hiền triết. Như vậy, chúng tôi đã công nhận ngài.
45.
45.
45.
Medhāvīnampi hiṃsanti, isiṃ dhammaguṇe rataṃ;
Vitakkā pāpakā rāja, subhā rāgūpasaṃhitā.
O king, evil thoughts connected with lust, appearing as beautiful, harm even the wise, the sage who delights in the virtuous qualities of a hermit.
Tâu Đại vương, những tư duy xấu ác, xem cái bất tịnh là tịnh, liên quan đến tham ái, chúng não hại cả bậc trí tuệ, vị ẩn sĩ đang vui thích trong các phẩm chất của Pháp.
46.
46.
46.
Uppannāyaṃ sarīrajo, rāgo vaṇṇavidūsano tava;
Taṃ pajaha bhaddamatthu te, bahunnāsi medhāvisammato.
This lust has arisen, born of the body, the destroyer of your complexion. Abandon it. May it be well with you; you were esteemed by many as wise.
Bạch ngài, tham ái này, sinh từ thân, làm hư hoại vẻ đẹp của ngài, đã khởi lên. Xin ngài hãy từ bỏ nó. Mong điều lành đến với ngài. Ngài được nhiều người công nhận là bậc trí tuệ.
47.
47.
47.
Te andhakārake † kāme, bahudukkhe mahāvise;
Tesaṃ mūlaṃ gavesissaṃ, checchaṃ rāgaṃ sabandhanaṃ.
Those sensual pleasures—blinding, full of suffering, and greatly poisonous—I will abandon. I will search for their root; I will cut off lust together with its bondage.
Ta sẽ từ bỏ những dục lạc ấy, là những thứ làm cho mù quáng, nhiều đau khổ, có nọc độc lớn. Ta sẽ tìm kiếm gốc rễ của chúng, sẽ cắt đứt tham ái cùng với sự trói buộc.
48.
48.
48.
Idaṃ vatvāna hārito, isi saccaparakkamo;
Kāmarāgaṃ virājetvā, brahmalokūpago ahūti.
Having said this, Hārita, the sage of true endeavor, having become dispassionate towards sensual lust, became one who went to the Brahma-world.
Vị ẩn sĩ Hārita, người nỗ lực trong sự thật, sau khi nói lời này, đã ly tham ái trong cõi dục và được sanh về cõi Phạm thiên.
Haritacajātakaṃ † pañcamaṃ.
The Haritaca Jātaka, the Fifth.
Chuyện Bổn sanh Haritaca, thứ năm.