Bản dịch
JA 428 — Chuyện Giáo Hội Ở Kosambi (Tiền thân Kosambi)
2. Kosambiyajātaka
1251. “Có tiếng động ồn ào, người người đều ngang bằng, không một ai đã nghĩ là mình ngu. Khi hội chúng bị chia rẽ, chúng đã không suy nghĩ điều gì khác hơn.
1252. Chúng hoàn toàn quên lãng, chúng tỏ ra vẻ sáng suốt, chúng có những lời nói thuộc phạm vi đấu khẩu, chúng mong muốn mỗi việc khua môi múa mỏ, chúng không biết đã bị cái gì dẫn dắt.
1253. Nó đã sỉ vả tôi, nó đã đánh đập tôi, nó đã chế ngự tôi, nó đã tước đoạt của tôi. Những người nào ấp ủ điều ấy, sự thù hận của những người ấy không được lặng yên.
1254. Nó đã sỉ vả tôi, nó đã đánh đập tôi, nó đã chế ngự tôi, nó đã tước đoạt của tôi. Những người nào không ấp ủ điều ấy, sự thù hận ở những người ấy được lặng yên.
1255. Ở thế gian này, các sự thù hận không bao giờ được lặng yên bởi sự hận thù, và chúng được lặng yên bởi sự không thù hận; điều này là quy luật cổ xưa.
1256. Và những kẻ khác không nhận thức được, ở đây chúng ta nên tự kiềm chế. Còn những ai tại nơi ấy nhận thức được (điều ấy), nhờ thế các sự tranh chấp được lặng yên.
1257. Những kẻ chuyên bẻ gãy xương, có sự giết hại mạng sống, có sự đoạt lấy bò, ngựa, và tài sản, đối với những kẻ đang cướp bóc xứ sở, chúng còn có sự kết hợp, tại sao đối với các ngươi lại không được?
1258. Nếu có thể đạt được người bạn khôn ngoan, làm người đồng hành, có cách cư xử tốt đẹp, sáng trí, sau khi vượt qua mọi hiểm nạn nên đi với người ấy, hoan hỷ, có niệm.
1259. Nếu không thể đạt được người bạn khôn ngoan, làm người đồng hành, có cách cư xử tốt đẹp, sáng trí, ví như vị vua đã từ bỏ vương quốc thâu phục được, nên sống một mình như là voi Mātaṅga ở trong rừng.
1260. Sống một mình là tốt hơn, không có tình bằng hữu ở kẻ ngu. Nên sống một mình và không nên làm các điều ác, ít ham muốn, như là voi Mātaṅga ở trong rừng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Puthusaddo samajano, na bālo koci maññatha;
Saṅghasmiṃ bhijjamānasmiṃ, nāññaṃ bhiyyo amaññaruṃ.
The assembly made a great clamor; no one thought, 'I am a fool.' When the Saṅgha was being split, they considered nothing else.
428. Hội chúng đồng lòng có tiếng ồn lớn, không ai tự cho mình là kẻ ngu. Khi Tăng chúng bị chia rẽ, họ không nghĩ đến nguyên nhân nào khác.
11.
11.
11.
Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā, vācāgocarabhāṇino;
Yāvicchanti mukhāyāmaṃ, yena nītā na taṃ vidū.
Bewildered are those who only seem wise, speakers whose domain is mere words. They speak, stretching their mouths as much as they wish, not knowing that by which they are led.
Thất niệm, ra vẻ là bậc trí, chỉ nói suông, họ muốn nói dài bao nhiêu tùy thích. Họ không biết mình bị cái gì dẫn dắt.
12.
12.
12.
Akkocchi maṃ avadhi maṃ, ajini maṃ ahāsi me;
Ye ca taṃ upanayhanti, veraṃ tesaṃ na sammati.
“He abused me, he struck me, he defeated me, he robbed me.” In those who harbor such thoughts, their enmity is never appeased.
‘Nó đã mắng tôi, nó đã đánh tôi, nó đã thắng tôi, nó đã lấy của của tôi.’ Những ai ôm giữ ý nghĩ ấy, oán thù của họ không bao giờ nguôi.
13.
13.
13.
Akkocchi maṃ avadhi maṃ, ajini maṃ ahāsi me;
Ye ca taṃ nupanayhanti, veraṃ tesūpasammati.
“He abused me, he struck me, he defeated me, he robbed me.” In those who do not harbor such thoughts, their enmity is appeased.
‘Nó đã mắng tôi, nó đã đánh tôi, nó đã thắng tôi, nó đã lấy của của tôi.’ Những ai không ôm giữ ý nghĩ ấy, oán thù của họ được lắng dịu.
14.
14.
14.
Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṃ;
Averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.
For not by enmity are enmities ever appeased here; they are appeased by non-enmity. This is an ancient law.
Thật vậy, ở đời này, hận thù không bao giờ được dập tắt bởi hận thù. Chỉ có không hận thù mới dập tắt được hận thù. Đây là định luật ngàn xưa.
15.
15.
15.
Pare ca na vijānanti, mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti, tato sammanti medhagā.
Others do not realize, 'We are perishing here.' But for those who do realize it, their quarrels are thereby stilled.
Những người khác không biết rằng: ‘Chúng ta đang đi đến chỗ diệt vong ở đây.’ Những ai ở đó biết được điều này, nhờ vậy các cuộc tranh cãi của họ được lắng dịu.
16.
16.
16.
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā, gavassa † dhanahārino;
Raṭṭhaṃ vilumpamānānaṃ, tesampi hoti saṅgati;
Even for those who break bones and take life, who steal cattle, horses, and wealth, and who plunder the kingdom—even for them there can be concord.
Những kẻ bẻ xương, cướp mạng sống, đoạt bò, ngựa, tài sản, những kẻ cướp bóc quốc độ, ngay cả họ cũng có sự hòa hợp;
Kasmā tumhāka no siyā.
Why then should there not be for you?
Tại sao các ngươi lại không thể có được sự hòa hợp?
17.
17.
17.
Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃcaraṃ sādhuvihāridhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni, careyya tenattamano satīmā.
If one should find a prudent companion, one who fares together, lives virtuously, and is steadfast, having overcome all dangers, one should fare with him, gladdened and mindful.
Nếu tìm được bạn đồng hành trí tuệ, sống tốt, kiên định, hãy chế ngự mọi hiểm nguy, cùng đi với người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm.
18.
18.
18.
No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃcaraṃ sādhuvihāridhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya, eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
If one should not find a prudent companion, one who fares together, lives virtuously, and is steadfast, then like a king who has abandoned his conquered kingdom, one should fare alone, like a Mātaṅga elephant in the forest.
Nếu không tìm được bạn đồng hành thông thái, cùng đi chung đường, sống tốt, kiên định; thì hãy đi một mình như vua từ bỏ quốc độ đã chinh phục, như voi chúa trong rừng.
19.
19.
19.
Ekassa caritaṃ seyyo, natthi bāle sahāyatā;
Eko care na pāpāni kayirā, appossukko mātaṅgaraññeva nāgoti.
Faring alone is better; there is no companionship with a fool. One should fare alone and do no evil, free from care, like a Mātaṅga elephant in the forest.
Đi một mình thì tốt hơn, không có tình bạn với kẻ ngu. Hãy đi một mình, không làm các điều ác, ít lo lắng, như voi chúa trong rừng.
Kosambiyajātakaṃ dutiyaṃ.
The Kosambiya Jātaka, the second.
Chuyện Bổn Sanh Kosambiya, phần thứ hai.