Bản dịch
JA 425 — Chuyện Những Sự Kiện Không Thể Xảy Ra (Tiền thân Atthàna)
9. Aṭṭhānajātaka
1223. “(Khi nào) sông Gaṅgā yên tĩnh như hồ sen, các con chim cu có màu vỏ ốc, và cây mận đỏ có thể cho trái thốt nốt, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1224. Khi nào có thể có chiếc áo khoác ba lớp bằng các lông rùa làm tấm choàng mùa đông, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1225. Khi nào có thể có tháp canh bằng các răng nanh của muỗi được khéo xây dựng, vững chải, và không bị lay động, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1226. Khi nào có thể có cái thang bằng các sừng của loài thỏ được khéo xây dựng nhằm mục đích leo lên cõi trời, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1227. Khi nào các con chuột, sau khi leo lên cái thang, có thể gặm nhấm mặt trăng và làm cho thần Rāhu rơi xuống, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1228. Khi nào những con ruồi có sự di chuyển thành đoàn, có thể uống hết hũ rượu, rồi sắp xếp chỗ cư ngụ ở bãi than hừng, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1229. Khi nào con lừa có đôi môi đỏ mọng, có khuôn mặt đẹp, và thiện xảo trong việc múa hát, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1230. Khi nào các con quạ và các con cú đi đến nơi thanh vắng, có thể trò chuyện, và mong muốn lẫn nhau, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1231. Khi nào cây dù làm bằng củ và lá sen có thể bền vững hơn sự vùi dập của cơn mưa, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1232. Khi nào con chim nhỏ có thể ngậm lấy ngọn núi Gandhamādana bằng cái mỏ và bay đi, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
1233. Khi nào đứa trẻ trai có thể điều khiển chiếc tàu vượt biển có đủ máy móc và dây thừng, rồi khởi hành, có lẽ khi ấy ta sẽ ra đi cùng nàng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Gaṅgā kumudinī santā, saṅkhavaṇṇā ca kokilā;
Jambu tālaphalaṃ dajjā, atha nūna tadā siyā.
When the Ganges, covered with water lilies, should be still, and the cuckoo should be the color of a conch, and the rose-apple tree should bear palm-fruit—then, perhaps, our union might be.
Khi nào sông Hằng tĩnh lặng, phủ đầy hoa súng, và chim cu có màu vỏ ốc, cây trâm lại cho ra quả thốt nốt, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
78.
78.
78.
Yadā kacchapalomānaṃ, pāvāro tividho siyā;
Hemantikaṃ pāvuraṇaṃ †, atha nūna tadā siyā.
When a threefold cloak made of tortoise-hair might exist, a covering for the winter—then, surely, our union might be.
425. Khi nào có chiếc áo choàng ba lớp dệt bằng lông rùa, để mặc trong mùa đông, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
79.
79.
79.
Yadā makasapādānaṃ †, aṭṭālo sukato siyā;
Daḷho ca avikampī ca †, atha nūna tadā siyā.
When a watchtower made of mosquitoes’ legs might be well-made, firm and unshakeable—then, surely, our union might be.
Khi nào có một tòa tháp được xây khéo bằng chân muỗi, lại vững chắc và không rung chuyển, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
80.
80.
80.
Yadā sasavisāṇānaṃ, nisseṇī sukatā siyā;
Saggassārohaṇatthāya, atha nūna tadā siyā.
When a ladder made of hare’s horns might be well-made for the purpose of ascending to heaven—then, surely, our union might be.
Khi nào có một chiếc thang làm khéo bằng sừng thỏ, để leo lên cõi trời, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
81.
81.
81.
Yadā nisseṇimāruyha, candaṃ khādeyyu mūsikā;
Rāhuñca paripāteyyuṃ †, atha nūna tadā siyā.
When mice, having climbed a ladder, might devour the moon and make Rāhu flee—then, surely, our union might be.
Khi nào loài chuột leo lên thang và ăn mặt trăng, lại còn đuổi được cả Rāhu (La-hầu), chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
82.
82.
82.
Yadā surāghaṭaṃ pitvā, makkhikā gaṇacāriṇī;
Aṅgāre vāsaṃ kappeyyuṃ, atha nūna tadā siyā.
When a swarm of flies, having drunk a pot of liquor, might make their dwelling on hot coals—then, surely, our union might be.
Khi nào bầy ruồi bay thành đàn, uống cạn vò rượu, rồi có thể sống trên than hồng, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
83.
83.
83.
Yadā bimboṭṭhasampanno, gadrabho sumukho siyā;
Kusalo naccagītassa, atha nūna tadā siyā.
When a donkey, endowed with lips like bimba fruit, might become handsome and skilled in dance and song—then, surely, our union might be.
Khi nào con lừa có khuôn mặt xinh đẹp, đôi môi như trái bimba, lại khéo léo trong ca múa, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
84.
84.
84.
Yadā kākā ulūkā ca, mantayeyyuṃ rahogatā;
Aññamaññaṃ pihayeyyuṃ, atha nūna tadā siyā.
When crows and owls, having gone to a secluded place, might take counsel together and yearn for one another—then, surely, our union might be.
Khi nào quạ và cú đến nơi kín đáo để bàn luận, và yêu mến lẫn nhau, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
85.
85.
85.
Yadā muḷāla † pattānaṃ, chattaṃ thirataraṃ siyā;
Vassassa paṭighātāya, atha nūna tadā siyā.
When a parasol made of lotus-stalk leaves might be firm enough to ward off the rain—then, surely, our union might be.
Khi nào chiếc dù làm bằng lá sen lại trở nên thật vững chắc để che mưa, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
86.
86.
86.
Yadā kulako † sakuṇo, pabbataṃ gandhamādanaṃ;
Tuṇḍenādāya gaccheyya, atha nūna tadā siyā.
When a small nest-building bird might take up Mount Gandhamādana with its beak and fly away—then, surely, our union might be.
Khi nào con chim sẻ nhỏ có thể dùng mỏ cắp lấy núi Gandhamādana mà bay đi, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
87.
87.
87.
Yadā sāmuddikaṃ nāvaṃ, sa-yantaṃ sa-vaṭākaraṃ †;
Ceṭo ādāya gaccheyya, atha nūna tadā siyāti.
When a boy-servant might take an ocean-going ship with its machinery and tackle and carry it off—then, surely, our union might be.
Khi nào một cậu bé có thể mang đi một chiếc thuyền đi biển, cùng với máy móc và buồm cột, chừng đó, may ra việc ấy mới thành.
Aṭṭhānajātakaṃ navamaṃ.
The Aṭṭhāna Jātaka, the ninth.
Chuyện Bổn Sanh Aṭṭhāna, thứ chín.
426. Dīpijātakaṃ (10)
426. The Dīpi Jātaka (10)
426. Chuyện Tiền Thân Dīpi (10)
88.
88.
88.