Bản dịch
JA 423 — Chuyện Uy Lực Dục Tham (Tiền thân Indriya)
7. Indriyajātaka
1206. “Này Nārada, kẻ nào đi theo quyền lực của các giác quan vì dục vọng, sau khi lìa bỏ hai thế giới người trời, kẻ ấy bị héo hon, và ngay cả trong khi đang sống.
1207. Khổ đau tiếp theo sau hạnh phúc, hạnh phúc tiếp theo sau khổ đau. Ngươi đây đã đạt được khổ đau từ hạnh phúc, vậy ngươi hãy mong mỏi hạnh phúc cao quý.
1208. Vào thời điểm khó khăn, người nào có sự chịu đựng khó khăn, không buông xuôi theo sự khó khăn, vị sáng suốt ấy đạt đến sự rèn luyện, sự chấm dứt khó khăn, sự hạnh phúc.
1209. Không phải vì mong muốn các dục, không phải vì không có lợi ích, không phải có lợi ích là nguyên nhân, ngươi không thể nào buông lơi giáo pháp và lơ là việc đã thực hành (tham thiền).
1210. “Đời gia chủ là khổ nhọc, và tốt lành thay sự sự thọ dụng được san sẻ, sự không đắc chí về các của cải và lợi lộc, và không có sầu não khi có sự tiêu hoại về của cải.
1211. “Vị Devala ngăm đen đã nói chỉ bấy nhiêu về sự sáng suốt của các vị ấy. Không có cái gì tệ hại hơn điều này, là việc người nào đó chiều theo quyền lực của các giác quan.
1212. “Tâu đức vua Siva, bệ hạ gánh chịu sự mất mát của cải vào trong tay các kẻ thù, tương tự như trường hợp của tôi về nghề nghiệp, kiến thức, tài năng, hôn nhân, giới hạnh, và sự lễ độ.
1213. Sau khi đánh mất những tiếng tăm này, tôi bị thay đổi bởi các hành động của chính mình. Tôi đây giống như người bị thất bại một ngàn lần, không còn thân quyến, không nơi nương tựa. Trong khi lệch ra khỏi đạo lý cao thượng, tôi giống y như người đã chết.
1214. Sau khi gây khổ não cho mình ở sự mong mỏi hạnh phúc, tôi đã bị rơi vào trạng thái này. Tựa như bị vây quay bởi ngọn lửa, tôi đây không đạt đến hạnh phúc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yo indriyānaṃ kāmena, vasaṃ nārada gacchati;
So pariccajjubho loke, jīvantova visussati †.
“Whoever, Nārada, through sensual desire, comes under the sway of the faculties, abandons both worlds and withers away even while living.”
Này Nārada, người nào vì dục vọng mà đi theo sự chi phối của các căn, người ấy từ bỏ cả hai thế giới, và bị khô héo ngay khi còn đang sống.
61.
61.
61.
Sukhassānantaraṃ dukkhaṃ, dukkhassānantaraṃ sukhaṃ;
Sosi † patto sukhā † dukkhaṃ, pāṭikaṅkha varaṃ sukhaṃ.
“Immediately after pleasure comes suffering; immediately after suffering comes pleasure. You, having come from bliss to suffering, should desire that supreme bliss.”
Ngay sau hạnh phúc là đau khổ, ngay sau đau khổ là hạnh phúc. Ngươi đã từ hạnh phúc mà đi đến đau khổ, hãy mong chờ hạnh phúc cao thượng.
62.
62.
62.
Kicchakāle kicchasaho, yo kicchaṃ nātivattati;
Sa kicchantaṃ sukhaṃ dhīro, yogaṃ samadhigacchati.
“The wise person who, in a time of hardship, endures that hardship and does not yield to it, attains the bliss that is the end of hardship, the security from bondage.”
Bậc hiền trí nào trong thời gian khó khăn, có thể chịu đựng khó khăn, không vượt quá giới hạn trong khó khăn, vị hiền trí ấy sẽ đạt được hạnh phúc và sự an ổn, chấm dứt mọi khó khăn.
63.
63.
63.
Na heva kāmāna kāmā, nānatthā nātthakāraṇā;
Na katañca niraṅkatvā, dhammā cavitumarahasi.
“You should not fall away from the Dhamma for the sake of desiring sensual pleasures, nor for the sake of what is not beneficial, nor for the sake of a benefit.”
Chắc chắn không vì ham muốn các dục vọng, không vì bất lợi, không vì lợi lộc, ngươi không nên từ bỏ Chánh pháp.
64.
64.
64.
Dakkhaṃ gahapatī † sādhu, saṃvibhajjañca bhojanaṃ;
Ahāso atthalābhesu, atthabyāpatti abyatho.
“It is good for a householder to be skillful and to share his food; not to be exultant in gains, and not to be dejected in misfortune.”
Đối với người gia chủ, thật là tốt đẹp khi được khéo léo, tốt đẹp khi biết chia sẻ vật thực, không hoan hỷ khi được lợi lộc, và không đau khổ khi bị tổn thất.
65.
65.
65.
Ettāvatetaṃ paṇḍiccaṃ, api so † davilo † bravi;
Na yito kiñci pāpiyo, yo indriyānaṃ vasaṃ vaje.
This much is wisdom, as even Devala the ascetic said: ‘There is no one more wicked than he who falls under the sway of the faculties.’
Đó là tất cả sự thông thái, ngay cả vị Davila cũng đã nói rằng: 'Không có ai tội lỗi hơn người đi theo sự chi phối của các căn'.
66.
66.
66.
Amittānaṃva hatthatthaṃ, sivi pappoti māmiva;
Kammaṃ vijjañca dakkheyyaṃ, vivāhaṃ sīlamaddavaṃ;
Ete ca yase hāpetvā, nibbatto sehi kammehi.
“Just as one falls into the hands of enemies, so Sivi has come to ruin like me. Having forsaken the glory of livelihood, skill, dexterity, marriage, virtue, and gentleness, he is reborn through his own deeds.”
Giống như rơi vào tay kẻ thù, giống như ta, Sivi đã đạt đến (sự hủy diệt). Sau khi từ bỏ công việc, học vấn, sự khéo léo, hôn nhân, giới hạnh và sự nhu hòa, cùng với danh tiếng này, ta đã tái sanh do nghiệp của chính mình.
67.
67.
67.
Sohaṃ sahassajīnova abandhu aparāyaṇo;
Ariyadhammā apakkanto, yathā peto tathevahaṃ.
“I, like one who has lost a thousand, am without friends, without refuge. Having deviated from the Noble Dhamma, I am just like a departed spirit.”
Ta đây, giống như người thua mất ngàn vàng, không bạn bè, không nơi nương tựa. Ta đã rời xa Thánh pháp, ta cũng giống như một ngạ quỷ vậy.
68.
68.
68.
Sukhakāme dukkhāpetvā, āpannosmi padaṃ imaṃ;
So sukhaṃ nādhigacchāmi, ṭhito † bhāṇumatāmivāti.
Desiring happiness, I have come to this state of suffering. I find no happiness, standing as if tormented by embers.
Vì mong cầu hạnh phúc, tôi đã làm khổ chúng sanh, nên đã rơi vào cảnh này; tôi không tìm được an lạc, đứng như bị than hồng bao vây.
Indriyajātakaṃ sattamaṃ.
The Indriya Jātaka, the seventh.
Chuyện Bổn Sanh Indriya, thứ bảy.
424. Ādittajātakaṃ (8)
426. The Āditta Jātaka (8)
424. Chuyện Tiền Thân Āditta (8)
69.
69.
69.