Bản dịch
JA 422 — Bổn sanh Vua Cetiya
6. Cetiyajātaka
1191. “Thật vậy, pháp tôn kính bị hủy hoại sẽ gây họa, không bị hủy hoại sẽ không gây họa bất cứ điều gì. Chính vì thế, không nên hủy hoại pháp tôn kính, chớ để pháp tôn kính bị hủy hoại gây họa cho bệ hạ.
1192. Đối với kẻ nói lời dối trá, chư Thiên bỏ đi, miệng tỏa ra mùi hôi thối, và kẻ ấy đánh mất vị thế của bản thân (ở không trung), là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1193. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún vào mặt đất, tâu Cetiya.
1194. Trời đổ mưa cho kẻ ấy lúc sái thời, trời không đổ mưa cho kẻ ấy lúc đúng thời, là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1195. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún sâu vào mặt đất, tâu Cetiya.
1196. Tâu vị chúa tể một phương, lưỡi của kẻ ấy có hai phần, tựa như lưỡi của con rắn, là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1197. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún sâu thêm nữa vào trái đất, tâu Cetiya.
1198. Tâu vị chúa tể một phương, lưỡi của kẻ ấy là không có, tựa như của con cá, là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1199. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún sâu thêm nữa vào trái đất, tâu Cetiya.
1200. Chỉ có các con gái được sanh ra cho kẻ ấy, còn các con trai không được sanh ra ở gia đình của kẻ ấy, là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1201. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún sâu thêm nữa vào trái đất, tâu Cetiya.
1202. Những đứa con không ở với kẻ ấy, chúng ra đi khắp các phương, là kẻ khi được hỏi câu hỏi thì cố tình đáp lại điều ấy theo cách khác.
1203. Tâu bệ hạ, bởi vì nếu bệ hạ nói sự thật, bệ hạ sẽ là như trước đây. Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ nói lời dối trá, bệ hạ sẽ lún sâu thêm nữa vào trái đất, tâu Cetiya.”
1204. “Đức vua Cetiya ấy, bị nguyền rủa bởi vị ẩn sĩ, trước kia có sự di chuyển ở không trung, rồi đã bị hút vào trái đất, có tình trạng tồi tệ trong cuộc hành trình của bản thân.
1205. Chính vì thế, các bậc sáng suốt không khen ngợi việc đi theo sự mong muốn. Người không có tâm xấu xa nên nói lời nói liên hệ đến sự thật.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dhammo have hato hanti, nāhato hanti kiñcanaṃ †;
Tasmā hi dhammaṃ na hane, mā tvaṃ † dhammo hato hani.
The Dhamma, when violated, indeed strikes back; unviolated, it strikes no one. Therefore, one should not violate the Dhamma, lest the violated Dhamma strike you.
Pháp khi bị hủy hoại, chắc chắn sẽ hủy hoại lại (người hủy hoại). Pháp không bị hủy hoại, không hủy hoại bất cứ ai. Do đó, chớ nên hủy hoại Pháp, kẻo Pháp bị hủy hoại sẽ hủy hoại lại ngươi.
46.
46.
46.
Alikaṃ bhāsamānassa, apakkamanti devatā;
Pūtikañca mukhaṃ vāti, sakaṭṭhānā ca dhaṃsati;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
From one who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, the deities depart, his mouth emits a stench, and he falls from his own position.
Vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, đối với người nói lời gian dối ấy, các vị chư thiên sẽ rời bỏ, miệng cũng tỏa ra mùi hôi thối, và người ấy bị rơi khỏi vị trí của mình.
47.
47.
47.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhūmiyaṃ tiṭṭha cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, stand upon the earth.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy đứng trên mặt đất.
48.
48.
48.
Akāle vassatī tassa, kāle tassa na vassati;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
For him who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, in his kingdom it rains out of season, and in season, it does not rain.
Vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, đối với vị ấy, trời mưa trái mùa, và đúng mùa thì trời lại không mưa.
49.
49.
49.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhūmiṃ pavisa cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, enter the earth.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy đi vào lòng đất.
50.
50.
50.
Jivhā tassa dvidhā hoti, uragasseva disampati;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
For him who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, O lord of the directions, his tongue becomes twofold, like that of a snake.
Thưa đức vua, vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, lưỡi của vị ấy sẽ bị chẻ hai, giống như lưỡi của loài rắn.
51.
51.
51.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhiyyo pavisa cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, enter even further.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy lún sâu hơn nữa.
52.
52.
52.
Jivhā tassa na bhavati, macchasseva disampati;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
For him who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, O lord of the directions, he has no tongue, just like a fish.
Thưa đức vua, vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, lưỡi của vị ấy sẽ không còn, giống như loài cá vậy.
53.
53.
53.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhiyyo pavisa cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, enter even further.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy lún sâu hơn nữa.
54.
54.
54.
Thiyova tassa jāyanti †, na pumā jāyare kule;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
For him who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, only daughters are born in his family; sons are not born.
Vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, trong gia tộc của vị ấy chỉ sinh con gái, không sinh con trai.
55.
55.
55.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhiyyo pavisa cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, enter even further.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy lún sâu hơn nữa.
56.
56.
56.
Puttā tassa na bhavanti, pakkamanti disodisaṃ;
Yo jānaṃ pucchito pañhaṃ, aññathā naṃ viyākare.
For him who, when asked a question, knowingly answers it otherwise, his sons are not born, or they depart to all directions.
Vị nào khi được hỏi vấn đề, dù biết rõ nhưng lại giải đáp sai khác, vị ấy sẽ không có con trai, (hoặc nếu có) chúng cũng bỏ đi khắp bốn phương.
57.
57.
57.
Sace hi saccaṃ bhaṇasi, hohi rāja yathā pure;
Musā ce bhāsase rāja, bhiyyo pavisa cetiya.
“If indeed you speak the truth, O king, you shall be as before. But if you speak falsely, O King Cetiya, enter even further.”
Hỡi đức vua, nếu ngài nói lời chân thật, ngài sẽ được như trước kia. Hỡi vua Cetiya, nếu ngài nói lời dối trá, hãy lún sâu hơn nữa.
58.
58.
58.
Sa rājā isinā satto, antalikkhacaro pure;
Pāvekkhi pathaviṃ cecco, hīnatto patva pariyāyaṃ †.
That king, Cetiya, cursed by the sage, who formerly traveled in the sky, entered the earth, having become debased and reached his end.
Vị vua ấy, bị vị ẩn sĩ nguyền rủa, trước kia từng đi lại trên hư không. Vua Cetiya, sau khi bị suy đồi và đến hồi kết cuộc, đã đi vào lòng đất.
59.
59.
59.
Tasmā hi chandāgamanaṃ, nappasaṃsanti paṇḍitā;
Aduṭṭhacitto bhāseyya, giraṃ saccūpasaṃhitanti.
Therefore, the wise do not praise going astray through desire. With an uncorrupted mind, one should speak words connected with truth.
Do đó, bậc hiền trí không tán thán việc đi theo thiên vị. Với tâm không bị ô nhiễm, người ấy nên nói lời chân thật.
Cetiyajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Cetiya Jātaka, the sixth.
Chuyện Bổn Sanh Cetiya, phần thứ sáu.