Bản dịch
JA 421 — Chuyện Người Hớt Tóc Gangamàla (Tiền thân Gangamàla)
5. Gaṅgamālajātaka
1182. “Trái đất đã sanh khởi than hừng, mặt đất đã trở thành cát nóng. Vậy mà ngươi ca hát về các phận sự. Sức nóng không đốt cháy ngươi.
1183. Mặt trời thiêu đốt ở bên trên, cát nóng đốt cháy ở bên dưới. Vậy mà ngươi ca hát về các phận sự. Sức nóng không đốt cháy ngươi.
1184. “Sức nóng không đốt cháy thần, các dục khiến thần bị đốt cháy. Tâu bệ hạ, bởi vì các hành động do dục vọng có nhiều loại, chúng đốt cháy, chứ không phải sức nóng.
1185. “Này dục vọng, trẫm đã nhìn thấy gốc rễ của ngươi. Này dục vọng, ngươi sản sanh ra các sự suy tầm. Trẫm sẽ không suy tầm về ngươi nữa, này dục vọng, như vậy ngươi sẽ không hình thành.
1186. Các dục nếu ít thì không đủ, nhưng với nhiều dục cũng không bị đốt nóng. Chao ôi, những lời lảm nhảm của kẻ ngu! Những người tỉnh thức, xin hãy tránh xa.
1187. Hành động ít ỏi (về dục) có kết quả này đến ta, Udaya ta đã đạt đến sự chứng đạt về bản thể vĩ đại. Thật vậy, lợi ích khéo được nhận lãnh thuộc về chàng trai trẻ, là người đã dứt bỏ sự luyến ái trong các dục và đã xuất gia.
1188. “Nhờ vào khổ hạnh, chúng sinh dứt bỏ các nghiệp ác. Phải chăng những người này nhờ vào khổ hạnh cũng dứt bỏ trạng thái người thợ cạo, người thợ gốm? Này Gaṅgamāla, sau khi chiến thắng nhờ vào khổ hạnh, hôm nay, ngươi xưng hô với vua Brahmadatta bằng tên gọi.
1189. “Hãy nhìn vào chính sự việc hiện bày, việc này là quả thành tựu của sự nhẫn nại và hiền hòa. Người nào được tất cả dân chúng kính lễ, chúng ta cùng với hoàng thân và các quan viên hãy kính lễ người ấy.
1190. Chớ có nói bất cứ điều gì về Gaṅgamāla, bậc hiền trí đang học tập về các đạo lộ trí tuệ. Bởi vì vị ấy đã vượt qua biển cả luân hồi, sau khi vượt qua nơi ấy, các vị du hành, xa lìa sầu muộn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Uddhaṃ tapati ādicco, adho tapati vālukā;
Atha gāyasi vattāni †, na taṃ tapati ātapo.
The sun scorches from above, the sand scorches from below; and yet you sing songs. Does the heat not scorch you?
Bên trên, mặt trời thiêu đốt, bên dưới, cát thiêu đốt; Vậy mà ngươi vẫn hát những bài ca, hơi nóng không thiêu đốt ngươi sao?
38.
38.
38.
Na maṃ tapati ātapo, ātapā † tapayanti maṃ;
Atthā hi vividhā rāja, te tapanti na ātapo.
The external heat does not scorch me, but the inner heats scorch me. For there are various matters, O king; it is these that scorch me, not the external heat.
Hơi nóng (bên ngoài) không thiêu đốt tôi, (những) hơi nóng (bên trong) thiêu đốt tôi; Thưa đức vua, vì có nhiều sự việc khác nhau, chính chúng thiêu đốt (tôi), chứ không phải hơi nóng (bên ngoài).
39.
39.
39.
Addasaṃ kāma te mūlaṃ, saṅkappā kāma jāyasi;
Na taṃ saṅkappayissāmi, evaṃ kāma na hehisi.
O sensual pleasure, I have seen your root. You are born from intention, O sensual pleasure. I will not form an intention for you; thus, O sensual pleasure, you shall not exist for me.
Này Dục vọng, ta đã thấy gốc rễ của ngươi; Này Dục vọng, ngươi sinh ra từ sự tầm cầu; Ta sẽ không tầm cầu về ngươi, như vậy, này Dục vọng, ngươi sẽ không hiện hữu.
40.
40.
40.
Appāpi kāmā na alaṃ, bahūhipi na tappati;
Ahahā bālalapanā, parivajjetha † jaggato.
Even few sensual pleasures are not enough, nor is one satisfied even with many. They are unsatisfactory, the babbling of fools. The vigilant one should avoid them.
Dù ít ỏi, các dục vọng cũng không đủ, dù nhiều cũng không làm thỏa mãn; Ôi, (dục vọng là) lời than vãn của kẻ ngu si, người tỉnh thức nên tránh xa chúng.
41.
41.
41.
Appassa kammassa phalaṃ mamedaṃ, udayo ajjhāgamā mahattapattaṃ;
Suladdhalābho vata māṇavassa, yo pabbajī kāmarāgaṃ pahāya.
This is the fruit of my small deed; Udaya has attained a state of greatness. Indeed, it is a well-gotten gain for the young man who went forth, having abandoned sensual passion.
Đây là quả của nghiệp nhỏ nhoi của ta, (trong khi) Udaya đã đạt đến sự vĩ đại; Thật vậy, lợi ích đã được khéo thu hoạch bởi chàng thanh niên, người đã xuất gia, từ bỏ ái dục.
42.
42.
42.
Tapasā pajahanti pāpakammaṃ, tapasā nhāpitakumbhakārabhāvaṃ;
Tapasā abhibhuyya gaṅgamāla, nāmenālapasajja brahmadattaṃ.
Through ascetic practice, they abandon evil action; through ascetic practice, they abandon the state of being a barber and a potter. Having overcome through ascetic practice, O Gaṅgamāla, you today address Brahmadatta by name.
Nhờ khổ hạnh, chúng sanh từ bỏ ác nghiệp; nhờ khổ hạnh, họ từ bỏ thân phận thợ cạo, thợ gốm. Hỡi Gaṅgamāla, hôm nay nhờ khổ hạnh, ngươi đã chế ngự được, lại còn gọi tên Brahmadatta.
43.
43.
43.
Sandiṭṭhikameva ‘‘amma’’ passatha, khantīsoraccassa ayaṃ † vipāko;
Yo † sabbajanassa vanditohu, taṃ vandāma sarājikā samaccā.
“Behold, mother, the immediately visible result! This is the fruit of patience and gentleness. He who has become worthy of veneration by all people, him we venerate, we with our king and ministers.”
Thưa mẹ, xin hãy xem, đây chính là quả báo hiện tiền của sự kham nhẫn và nhu hòa. Vị nào đã được tất cả mọi người đảnh lễ, chúng con cùng với đức vua và các vị quan lại, xin đảnh lễ vị ấy.
44.
44.
44.
Mā kiñci avacuttha gaṅgamālaṃ, muninaṃ monapathesu sikkhamānaṃ;
Eso hi atari aṇṇavaṃ, yaṃ taritvā caranti vītasokāti.
“Do not say anything to Gaṅgamāla, who is training in the paths of the sages. For he has indeed crossed that ocean, which the sorrowless, having crossed, wander free.”
Chớ có nói bất cứ điều gì với Gaṅgamāla, người đang tu tập trên con đường của các bậc ẩn sĩ. Vị ấy thật đã vượt qua biển lớn, nơi mà các bậc đã thoát ly sầu muộn vượt qua và đi lại.
Gaṅgamālajātakaṃ pañcamaṃ.
The Gaṅgamāla Jātaka, the fifth.
Chuyện Bổn Sanh Gaṅgamāla, phần thứ năm.