Bản dịch
JA 415 — Chuyện Phần Cháo Cúng Dường (Tiền thân Kummasàpinda)
10. Kummāsapiṇḍijātaka
1128. “Thật vậy, sự phục vụ đến các vị Phật Độc Giác Anomadassī không phải là nhỏ nhoi. Hãy nhìn xem quả báu của phần cháo đặc khô khan không dầu và không muối gia vị.
1129. Và tôi có được nhiều voi, bò, ngựa, tài sản, lúa gạo, toàn thể trái đất, và những nữ nhân giống như tiên nữ này. Hãy nhìn xem quả báu của phần cháo đặc.”
1130. “Tâu đại vương, bậc thầy tổ về thiện pháp, ngài thường xuyên thốt ra các câu thơ. Tâu bậc có sự phát triển về quốc độ, thiếp xin hỏi bệ hạ: Bệ hạ có tâm ý hoan hỷ một cách mãnh liệt, xin bệ hạ hãy giải thích.”
1131. “Trẫm đã được sanh ra trong một gia đình ở ngay tại thành phố này. Trẫm đã là người làm công cho người khác, người làm thuê, và là người gìn giữ giới.
1132. Trong khi rời khỏi thành vì công việc, trẫm đã nhìn thấy bốn vị Sa-môn đầy đủ hạnh kiểm và giới luật, có bản thể mát mẻ, không còn lậu hoặc.
1133. Sau khi khởi tâm tịnh tín đối với các vị ấy, trẫm đã thỉnh các vị ngồi xuống ở tấm thảm lá cây. Được tịnh tín, trẫm đã tận tay dâng cháo đặc đến các vị Phật.
1134. Quả báu của nghiệp thiện ấy đã thành tựu đến trẫm là như thế này. Trẫm đã thọ hưởng vương quốc này, vùng đất hạng nhất, giàu có.”
1135. “Xin bệ hạ hãy bố thí rồi mới ăn, và chớ có xao lãng. Tâu bậc thầy tổ về thiện pháp, xin bệ hạ hãy xoay chuyển bánh xe (công lý). Tâu đức vua, bệ hạ chớ là vị vua bất công. Tâu bậc thầy tổ về thiện pháp, xin bệ hạ hãy hộ trì công lý.”
1136. “Này ái hậu, trẫm đây sẽ thực hành lập đi lập lại chính con đường ấy, con đường đã được các bậc Thánh nhân thực hành. Này ái nữ xinh đẹp của đức vua xứ Kosala, trẫm có sự hoan hỷ khi nhìn thấy các bậc A-la-hán.”
1137. “Hoàng hậu giống như cô tiên nữ, nàng rực rỡ ở giữa đám phụ nữ. Này ái nữ xinh đẹp của đức vua xứ Kosala, nàng đã làm nghiệp gì tốt đẹp, nhờ vậy, nàng có sắc đẹp?”
1138. “Tâu vị Sát-đế-lỵ, thiếp đã là nữ nô lệ của gia tộc Ambaṭṭha, là nữ tỳ hầu hạ người khác. Thiếp đã tự kiềm chế (thân khẩu), có sự nuôi mạng đúng pháp, là người nữ có giới hạnh, và có dáng vẻ tốt đẹp.
1139. Khi ấy, thiếp đã dâng cúng phần ăn được nhận lãnh đến vị tỳ khưu đang đi khất thực. Thiếp đã vui mừng, có tâm ý hoan hỷ tự bản thân. Quả báu của nghiệp ấy đã có cho thiếp là như thế này.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Na kiratthi anomadassisu, pāricariyā buddhesu appikā †;
Sukkhāya aloṇikāya ca, passaphalaṃ kummāsapiṇḍiyā.
“Indeed, service to the Paccekabuddhas, those of noble vision, is not of little fruit. Behold the fruit of a dry and saltless barley cake!”
Quả thật, sự phục vụ đối với các vị Phật có tuệ giác cao thượng không hề nhỏ bé. Hãy xem quả của chiếc bánh bột lúa mạch, khô và không có muối.
143.
143.
143.
Hatthigavassā cime bahū †, dhanadhaññaṃ pathavī ca kevalā;
Nāriyo cimā accharūpamā, passaphalaṃ kummāsapiṇḍiyā.
“These many elephants, cattle, and horses, this wealth and grain, and the entire earth, and these women like celestial nymphs—behold the fruit of a barley cake!”
Nhiều voi, bò, và ngựa này, tài sản, ngũ cốc, và toàn thể trái đất, những người phụ nữ này xinh đẹp như tiên nữ; hãy xem quả của chiếc bánh bột lúa mạch.
144.
144.
144.
Abhikkhaṇaṃ rājakuñjara, gāthā bhāsasi kosalādhipa;
Pucchāmi taṃ raṭṭhavaḍḍhana, bāḷhaṃ pītimano pabhāsasi.
“O noble king, Lord of Kosala, you constantly recite these verses. I ask you about them, O promoter of the kingdom, for you speak with a mind of extreme joy.”
Hỡi vị vua voi, hỡi đấng cai trị Kosala, ngài thường xuyên nói lên những câu kệ. Con xin hỏi ngài, hỡi người làm cho vương quốc phồn thịnh, ngài nói với tâm tràn đầy hỷ lạc.
145.
145.
145.
Imasmiññeva nagare, kule aññatare ahuṃ;
Parakammakaro āsiṃ, bhatako sīlasaṃvuto.
“In this very city, I was in a certain poor family. I was a laborer for others, a wage-earner restrained by virtue.”
Chính trong thành phố này, ta đã ở trong một gia đình không tên tuổi. Ta là người làm công cho người khác, một người làm thuê có giữ gìn giới hạnh.
146.
146.
146.
Kammāya nikkhamantohaṃ, caturo samaṇeddasaṃ;
Ācārasīlasampanne, sītibhūte anāsave.
“As I was going out to work, I saw four ascetics who were accomplished in conduct and virtue, cooled and taintless.”
Khi ta đi ra ngoài để làm việc, ta đã thấy bốn vị sa-môn, những vị đầy đủ oai nghi và giới hạnh, đã tịch tịnh, không còn lậu hoặc.
147.
147.
147.
Tesu cittaṃ pasādetvā, nisīdetvā † paṇṇasanthate;
Adaṃ buddhāna kummāsaṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
“Having felt confidence in them, and having seated them on a spread of leaves, with a serene mind I gave the barley cake to the Buddhas with my own hands.”
Với tâm tịnh tín đối với các vị ấy, sau khi mời các vị ngồi trên tấm trải bằng lá, ta đã dâng bánh bột lúa mạch đến các vị Phật, với tâm hoan hỷ, bằng chính đôi tay của mình.
148.
148.
148.
Tassa kammassa kusalassa, idaṃ me edisaṃ phalaṃ;
Anubhomi idaṃ rajjaṃ, phītaṃ dharaṇimuttamaṃ.
“Of that wholesome kamma, this is such a fruit for me: I enjoy this prosperous and supreme kingdom on earth.”
Đây là quả như thế này của ta, từ nghiệp thiện ấy. Ta đang hưởng thụ vương quốc này, thịnh vượng và cao quý nhất trên mặt đất.
149.
149.
149.
Dadaṃ bhuñja mā ca pamādo †, cakkaṃ vattaya kosalādhipa;
Mā rāja adhammiko ahu, dhammaṃ pālaya kosalādhipa.
“Give and enjoy, and be not heedless! Turn the wheel, O Lord of Kosala! Do not be an unrighteous king; protect the Dhamma, O Lord of Kosala!”
Hãy vừa cho, vừa hưởng, và chớ có phóng dật. Hãy vận hành bánh xe Pháp, hỡi đấng cai trị Kosala. Hỡi đức vua, chớ trở thành người phi pháp, hãy hộ trì Chánh pháp, hỡi đấng cai trị Kosala.
150.
150.
150.
Sohaṃ tadeva punappunaṃ, vaṭumaṃ ācarissāmi sobhane;
Ariyācaritaṃ sukosale, arahanto me manāpāva passituṃ.
“O beautiful one, O fair lady of Kosala, I will again and again practice that very path, the conduct of the noble ones. Arahants are pleasing to me; I wish to see them.”
Hỡi nàng xinh đẹp, hỡi nàng công chúa Kosala, ta sẽ thực hành lặp đi lặp lại chính con đường đó, hạnh của bậc Thánh. Các vị A-la-hán thật đáng ưa thích đối với ta để được nhìn thấy.
151.
151.
151.
Devī viya accharūpamā, majjhe nārigaṇassa sobhasi;
Kiṃ kammamakāsi bhaddakaṃ, kenāsi vaṇṇavatī sukosale.
“Like a chief queen, like a celestial nymph, you shine in the midst of your retinue of women. What good kamma did you perform, O fair lady of Kosala, by which you have such a beautiful complexion?”
Xinh đẹp như tiên nữ, giống như một vị thiên hậu, nàng tỏa sáng giữa đám đông phụ nữ. Nàng đã làm nghiệp lành gì, nhờ đâu mà nàng có dung sắc xinh đẹp, hỡi nàng công chúa Kosala?
152.
152.
152.
Ambaṭṭhakulassa khattiya, dāsyāhaṃ parapesiyā ahuṃ;
Saññatā ca † dhammajīvinī, sīlavatī ca apāpadassanā.
“O Khattiya, I was a female slave in a householder's family, a servant to others. I was restrained, lived righteously, was virtuous, and had a pleasant appearance.”
Tâu đại vương, thiếp là nữ tỳ của gia đình Ambaṭṭha, là người hầu hạ cho người khác. Thiếp đã có sự tự chế, sống đúng theo Pháp, có giới hạnh, và có vẻ ngoài hiền thiện.
153.
153.
153.
Uddhaṭabhattaṃ ahaṃ tadā, caramānassa adāsi bhikkhuno;
Vittā sumanā sayaṃ ahaṃ, tassa kammassa phalaṃ mamedisanti.
“At that time, I gave a portion of set-aside food to a bhikkhu who was wandering for alms. I myself was pleased and joyful. This is the fruit of that kamma for me.”
Khi ấy, thiếp đã dâng phần cơm được chia cho một vị tỳ khưu đang đi khất thực. Chính thiếp đã hoan hỷ, với tâm vui mừng. Quả của nghiệp ấy của thiếp là như thế này.
Kummāsapiṇḍijātakaṃ dasamaṃ.
The Kummāsapiṇḍi Jātaka, the Tenth.
Chuyện Kummāsapiṇḍi, thứ mười.
416. Parantapajātakaṃ (7-2-11)
416. The Parantapa Jātaka (7.2.11)
416. Chuyện Parantapa (7-2-11)
154.
154.
154.