Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 413

Bản dịch

JA 413Chuyện Người Ch ăn D ê Dhùmakàri (Tiền thân Dhùmakàri)

8. Dhūmakārijātaka

1114. “Vua Yudhiṭṭhila, với sự yêu mến công lý, đã hỏi Vidhura rằng: ‘Này Bà-la-môn, ông có biết người nào một mình mà sầu muộn về nhiều việc?’”

1115. “Vị Bà-la-môn Vāseṭṭha có nhiều củi gỗ, trong khi sống ở trong rừng với bầy dê, đã thực hiện việc xông khói đêm ngày, không biếng nhác.

1116. Do mùi hương khói ấy của vị Bà-la-môn, những con nai rừng, bị quấy rầy bởi lũ muỗi, đã đi đến cư trú mùa mưa kề cận khu trại của Bà-la-môn Dhūmakārī.

1117. Sau khi quan tâm đến các con nai rừng, Dhūmakārī đã không biết đến các con dê đến hay đi; những con dê ấy của Dhūmakārī đã bị mất mát.

1118. Và vào mùa thu, khi muỗi ở trong rừng được giảm thiểu, các con nai rừng đã đi vào các khe núi hiểm trở và các suối đầu nguồn của các dòng sông.

1119. Sau khi nhìn thấy các con nai đã ra đi và các con dê đã đi đến sự tiêu diệt, vị Bà-la-môn đã trở nên gầy ốm, xuống sắc, và bị bệnh vàng da.

1120. Như vậy, kẻ nào lơ là đối với người của mình và tỏ ra quý mến khách mới đến, kẻ ấy một mình sầu muộn về nhiều việc, tựa như vị Bà-la-môn Dhūmakārī.”