Bản dịch
JA 412 — Chuyện Thần Cây Bông Vải (Tiền thân Kotisimbalì)
7. Koṭasimbalijātaka
1107. “Ta đã đi đến mang theo con rắn dài một ngàn sải tay. Trong khi nâng đỡ con rắn ấy và ta có thân hình to lớn, ông không run rẩy.
1108. Giờ đây, trong khi nâng đỡ con chim nhỏ có ít thịt hơn cùng với ta, ông lại rung động, khiếp sợ, này thần cây bông vải, vì lý do gì?”
1109. “Thưa điểu vương, ngài là loài ăn thịt, con chim này là loài ăn trái cây. Con chim này, sau khi ăn các hạt giống của cây đa, các chùm trái sung, và các hạt của cây vả, nó sẽ đại tiện xuống thân xác của tôi.
1110. Những cây ấy tự nảy mầm, được sanh lên an toàn ở bên sườn của tôi. Chúng sẽ bao trùm lên và sẽ làm cho tôi không còn là cây nữa.
1111. Cũng có những cây cối khác là những loài thảo mộc có rễ và thân gỗ bị hủy hoại bởi loài cây đã được sanh lên do con chim mang lại hạt giống.
1112. Những cây ấy vươn lên nhanh, phát triển vượt trội luôn cả cây rừng to lớn; vì thế, thưa điểu vương, tôi run rẩy trong khi nhìn thấy nỗi nguy hiểm ở tương lai.”
1113. “Nên lo ngại về những điều đáng lo ngại, nên phòng ngừa nỗi nguy hiểm ở tương lai. Vì sự nguy hiểm trong tương lai, bậc sáng trí xem xét cả hai đời (đời này và đời sau).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ahaṃ dasasataṃbyāmaṃ, uragamādāya āgato;
Tañca mañca mahākāyaṃ, dhārayaṃ nappavedhasi †.
I have come, having seized a serpent a thousand fathoms long. Seeing that great-bodied one and me who am bearing it, you do not tremble.
Ta đã đến, mang theo một con rồng dài một ngàn sải. (Khi thấy) nó, con rồng thân hình to lớn, và ta, người đang mang nó, ngươi không hề run sợ.
122.
122.
122.
Athimaṃ khuddakaṃ pakkhiṃ, appamaṃsataraṃ mayā;
Dhārayaṃ byathasi † bhītā †, kamatthaṃ koṭasimbali †.
But now, seeing this tiny bird with very little flesh, borne by me, you tremble with fear. For what reason, O Koṭasimbali?
Vậy mà, hỡi cây gòn, vì lý do gì ngươi lại run rẩy sợ hãi khi thấy ta mang con chim nhỏ bé này, một con vật rất ít thịt?
123.
123.
123.
Maṃsabhakkho tuvaṃ rāja, phalabhakkho ayaṃ dijo;
Ayaṃ nigrodhabījāni, pilakkhudumbarāni ca;
Assatthāni ca bhakkhitvā, khandhe me ohadissati.
412. You, O king, are a flesh-eater, but this bird eats fruit. After eating the seeds of the banyan, pilakkha, udumbara, and assattha, it will deposit them on my trunk.
Hỡi vua, ngài là loài ăn thịt, còn con chim này là loài ăn trái cây. Nó, sau khi ăn hạt cây đa, hạt cây pilakkha, udumbara, và hạt cây bồ đề, sẽ thải phân trên thân của ta.
124.
124.
124.
Te rukkhā saṃvirūhanti, mama passe nivātajā;
Te maṃ pariyonandhissanti, arukkhaṃ maṃ karissare.
Those trees will sprout up, born in a sheltered spot at my side. They will completely envelop me and make me no longer a tree.
Những cây ấy, mọc ở nơi khuất gió bên cạnh ta, sẽ lớn lên. Chúng sẽ bao bọc lấy ta, chúng sẽ làm cho ta không còn là một cái cây (độc lập) nữa.
125.
125.
125.
Santi aññepi rukkhā se, mūlino khandhino dumā;
Iminā sakuṇajātena, bījamāharitā hatā.
There are other trees as well, with roots and trunks, that have been destroyed by seeds brought by this kind of bird.
Có những cây khác, những cây có rễ, có thân, đã bị hủy diệt bởi những cây (tầm gửi) sinh ra từ hạt giống do loài chim này mang đến.
126.
126.
126.
Ajjhārūhābhivaḍḍhanti †, brahantampi vanappatiṃ;
Tasmā rāja pavedhāmi, sampassaṃnāgataṃ bhayaṃ.
Growing upon it, they overwhelm even a great forest tree. Therefore, O king, I tremble, foreseeing the future danger.
Những cây tầm gửi phát triển lấn át cả những cây cổ thụ to lớn. Do đó, hỡi vua, ta run sợ, vì thấy rõ mối nguy trong tương lai.
127.
127.
127.
Saṅkeyya saṅkitabbāni, rakkheyyānāgataṃ bhayaṃ;
Anāgatabhayā dhīro, ubho loke avekkhatīti.
One should be wary of what is worthy of suspicion; one should guard against a future danger. Because of fear of what is yet to come, the wise person has regard for both worlds.
Nên đề phòng những điều đáng đề phòng, nên phòng hộ trước mối nguy chưa đến. Người trí, vì sợ mối nguy chưa đến, nhìn thấy rõ (lợi ích ở) cả hai thế giới.
Koṭasimbalijātakaṃ sattamaṃ.
The Koṭasimbali Jātaka, the seventh.
Truyện Bổn sanh Koṭisimbali, thứ bảy.