Bản dịch
JA 411 — Chuyện Vua Susìma (Tiền thân Susìma)
6. Susīmajātaka
1100. “Các sợi tóc trước kia đã là màu đen, chúng mọc lên tại vị trí phù hợp ở trên đầu. Giờ đây, sau khi nhìn thấy chúng bạc trắng, này Susīma, nay là thời điểm của Phạm hạnh, ngươi hãy thực hành giáo pháp.”
1101. “Tâu bệ hạ, sợi tóc bạc là của thiếp đây, không phải của ngài, từ đầu của thiếp đây, từ phần đỉnh đầu của thiếp. Thiếp đã nói lời dối trá (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm điều lợi ích.’ Tâu chúa thượng, xin bệ hạ hãy tha thứ lỗi lầm cho thiếp một lần này.
1102. Tâu bệ hạ, ngài trẻ tuổi, (đẹp dáng) đáng nhìn, ngài trỗi dậy ở lứa tuổi thanh niên, giống như chồi non, ngài hãy cai quản vương quốc và hãy ngắm nhìn thiếp. Tâu vị chúa của loài người, ngài chớ đeo đuổi việc viễn vông.”
1103. “Trẫm nhìn ngắm người thiếu nữ tuổi thanh xuân, có vóc dáng hài hòa, với thân hình đẹp, với vòng eo xinh. Tựa như mầm dây leo đang chuyển động, nàng bước đi, tựa như đang làm say đắm các nam nhân.
1104. Trẫm nhìn ngắm nàng ấy vào thời điểm khác, vào độ tuổi tám mươi, hoặc chín mươi, nàng cầm lấy cây gậy, run lẩy bẩy, lưng còng xuống giống như sừng bò, đang bước đi.
1105. Trẫm đây, trong lúc suy gẫm về chính điều ấy, một mình, trẫm nằm ở giữa chiếc giường, cũng như vậy, trong lúc trẫm xem xét như thế trẫm không thích thú ở gia đình; nay là thời điểm của Phạm hạnh.
1106. Sự vui thích của người sống ở gia đình có sự lòng thòng tựa như sợi dây thừng. Sau khi cắt đứt luôn cả việc này, các bậc sáng trí ra đi, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kāḷāni kesāni pure ahesuṃ, jātāni sīsamhi yathāpadese;
Tānajja setāni susīma † disvā, dhammaṃ cara brahmacariyassa kālo.
Formerly the hairs on my head were black, growing in their proper place. Seeing them white today, O Susīma, practice the Dhamma! It is time for the holy life.
Hỡi Susīma, trước đây những sợi tóc mọc trên đầu ở đúng chỗ của chúng đã có màu đen. Hôm nay, sau khi thấy chúng đã bạc trắng, hãy thực hành Pháp, đây là thời để sống đời phạm hạnh.
115.
115.
115.
Mameva deva palitaṃ na tuyhaṃ, mameva sīsaṃ mama uttamaṅgaṃ;
‘‘Atthaṃ karissa’’nti musā abhāṇiṃ †, ekāparādhaṃ khama rājaseṭṭha.
411. The grey hair is mine, O lord, not yours; it is my head, my chief limb. Thinking, ‘I will do him a service,’ I spoke falsely. Forgive this single offense, O best of kings.
Tâu đức vua, đó là tóc bạc của chính tôi, không phải của ngài; (tóc bạc) trên chính đầu của tôi, trên phần cao quý nhất của tôi. Tôi đã nói dối rằng: 'Tôi sẽ làm điều lợi ích'. Hỡi bậc vua cao quý, xin hãy tha thứ cho một lỗi lầm này.
116.
116.
116.
Daharo tuvaṃ dassaniyosi rāja, paṭhamuggato hosi † yathā kaḷīro;
Rajjañca kārehi mamañca passa, mā kālikaṃ anudhāvī janinda.
You are young and handsome, O king, like a newly emerged bamboo shoot. Rule your kingdom and look after me; do not pursue an untimely course, O lord of people.
Hỡi đức vua, ngài còn trẻ trung, trông thật đáng nhìn, giống như một chồi non mới nhú. Hãy cai trị vương quốc và hãy nhìn tôi. Hỡi vua của dân, đừng vội chạy theo việc (xuất gia) có kết quả về sau.
117.
117.
117.
Passāmi vohaṃ dahariṃ kumāriṃ, sāmaṭṭhapassaṃ sutanuṃ sumajjhaṃ;
Kāḷappavāḷāva pavellamānā, palobhayantīva † naresu gacchati.
I see a young maiden with a smooth complexion, a beautiful body, and a slender waist. She goes among men, swaying like a dark coral sprout, as if to entice them.
Ta thấy một thiếu nữ trẻ trung, có làn da mịn màng, thân hình đẹp, eo thon. Cô ấy đi, đung đưa như một nhánh san hô đen, như đang quyến rũ những người đàn ông.
118.
118.
118.
Tamena passāmiparena nāriṃ, āsītikaṃ nāvutikaṃ va jaccā;
Daṇḍaṃ gahetvāna pavedhamānaṃ, gopānasībhoggasamaṃ carantiṃ.
At another time, I see that very same woman, eighty or ninety years of age, going about holding a staff and trembling, bent like a roof-rafter.
Vào một thời gian sau, ta thấy chính người phụ nữ ấy, tuổi đời tám mươi hoặc chín mươi, cầm cây gậy, run rẩy, đi lại với thân hình cong như kèo nhà.
119.
119.
119.
Sohaṃ tamevānuvicintayanto, eko sayāmi † sayanassa majjhe;
‘‘Ahampi evaṃ’’ iti pekkhamāno, na gahe rame † brahmacariyassa kālo.
Reflecting on just that, I lie alone in the middle of my bed. Considering, ‘I too will be like this,’ I take no delight in the household life. It is time for the holy life.
Ta, trong khi suy ngẫm về chính điều đó, nằm một mình giữa giường, trong khi thấy rằng: 'Ta cũng sẽ như vậy', ta không vui thích trong đời sống gia đình; đây là thời để sống đời phạm hạnh.
120.
120.
120.
Rajjuvālambanī cesā, yā gehe vasato rati;
Evampi chetvāna vajanti dhīrā, anapekkhino kāmasukhaṃ pahāyāti.
This delight for one dwelling at home is a rope to cling to. Having cut even this, the wise go forth, unconcerned, abandoning sensual pleasure.
Sự vui thích của người sống tại gia này giống như một sợi dây để níu bám. Những người trí tuệ, sau khi cắt đứt cả điều này, họ ra đi, từ bỏ hạnh phúc của dục lạc, không còn luyến tiếc.
Susīmajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Susīma Jātaka, the sixth.
Truyện Bổn sanh Susīma, thứ sáu.