Bản dịch
JA 409 — Chuyện Vua Dalhadhamma (Tiền thân Dalhadhamma)
4. Daḷhadhammajātaka
1084. “Nếu tôi, với hành vi năng nổ ở chiến trường, trong lúc vận chuyển, trong lúc gạt đi mũi tên ở lồng ngực, đã không làm hài lòng đức vua Daḷhadhamma (thì không còn ai khác có thể làm được điều ấy).
1085. Phải chăng đức vua không nhận biết sự nỗ lực không kém loài người đã được tôi thực hiện tốt đẹp, và những lần được phái đi đưa tin ấy của tôi ở chiến trường?
1086. Phải chăng tôi đây sẽ phải chết không thân quyến, không nơi nương tựa? Bởi vì, giờ đây tôi đã được giao cho người thợ gốm để làm thú vận chuyển phân.”
1087. “Chừng nào con người còn mong mỏi thì chừng ấy họ còn thân cận. Con người ruồng bỏ kẻ ấy khi không còn lợi ích, tựa như vị Sát-đế-lỵ bỏ lại con lạc đà bị bệnh.
1088. Người nào trước đây có điều tốt đẹp đã được người khác làm cho mình, có việc lợi ích đã được người khác tạo cho mình, mà không ghi nhớ, thì các điều lợi ích mà người ấy mong cầu sẽ bị tiêu hoại đối với người ấy.
1089. Người nào trước đây có điều tốt đẹp đã được người khác làm cho mình, có việc lợi ích đã được người khác tạo cho mình, mà luôn ghi nhớ, thì các điều lợi ích đã được người ấy mong cầu sẽ tăng trưởng cho người ấy.
1090. Thưa các vị đã đến tụ hội ở nơi này, tôi nói với các vị điều ấy. Tất cả các vị hãy là những người biết tri ân, các vị sẽ an trú ở cõi trời thời gian dài.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ahaṃ ce daḷhadhammassa †, vahanti nābhirādhayiṃ;
Dharantī urasi sallaṃ, yuddhe vikkantacārinī.
If I, bearing a dart in my breast and striving valiantly in battle, did not please Daḷhadhamma while carrying out my duties...
Nếu tôi, người mang gánh nặng cho vua Daḷhadhamma, người mang mũi tên trên ngực, người hành động dũng mãnh trong trận chiến, mà không làm ngài hài lòng.
99.
99.
99.
Nūna rājā na jānāti †, mama vikkamaporisaṃ;
Saṅgāme sukatantāni, dūtavippahitāni ca.
Surely the king does not know my valorous effort, my well-executed deeds in battle, and my dispatching of envoys.
Chắc chắn nhà vua không biết đến sự dũng mãnh của tôi, những chiến công trong trận mạc, và cả những lần được phái đi làm sứ giả.
100.
100.
100.
Sā nūnāhaṃ marissāmi, abandhu aparāyinī †;
Tadā hi † kumbhakārassa, dinnā chakaṇahārikā.
Surely I shall die, without kin, without refuge; for then I, a carrier of dung, was given to a potter.
Chắc chắn tôi đây sẽ chết, không thân thích, không nơi nương tựa; bởi vì khi đó, tôi đã bị trao cho người thợ gốm để làm người mang phân bò.
101.
101.
101.
Yāvatāsīsatī poso, tāvadeva pavīṇati;
Atthāpāye jahanti naṃ, oṭṭhibyādhiṃva khattiyo.
For as long as a person has need of another, for just that long does one attend to them. When their usefulness is gone, they are abandoned, just as a king abandons a camel with a mouth disease.
Người ta chỉ gần gũi chừng nào còn mong cầu (lợi ích); khi lợi ích không còn, họ liền từ bỏ người ấy, như vị vua bỏ con lạc đà bị bệnh môi.
102.
102.
102.
Yo pubbe katakalyāṇo, katattho nāvabujjhati;
Atthā tassa palujjanti, ye honti abhipatthitā.
Whoever has previously received a kindness but does not recognize the good deed done for him, all the aims he desires come to ruin.
Người nào trước đây được làm điều tốt, được làm lợi ích mà không nhận biết, những lợi ích mà người ấy mong muốn đều sẽ bị hủy hoại.
103.
103.
103.
Yo pubbe katakalyāṇo, katattho manubujjhati;
Atthā tassa pavaḍḍhanti, ye honti abhipatthitā.
Whoever, having previously had a good deed done for him and a benefit conferred, is grateful; all the aims he desires will prosper.
Người nào trước đây được làm điều tốt, được làm lợi ích mà nhận biết, những lợi ích mà người ấy mong muốn đều sẽ được tăng trưởng.
104.
104.
104.
Taṃ vo vadāmi bhaddante †, yāvantettha samāgatā;
Sabbe kataññuno hotha, ciraṃ saggamhi ṭhassathāti.
Therefore, good sirs, I say this to all of you who are assembled here: All of you, be grateful. You will long remain in the heavenly world.
Hỡi các ngài, ta nói điều này với các ngài, tất cả những ai đã hội tụ nơi đây: Tất cả hãy là người biết ơn, các ngài sẽ được an trú lâu dài ở cõi trời.
Daḷhadhammajātakaṃ catutthaṃ.
The Daḷhadhamma Jātaka, the fourth.
Chuyện Bổn sanh Daḷhadhamma, phần thứ tư.