Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 408

Bản dịch

JA 408Chuyện Người Thợ Gốm (Tiền thân Kumbhakàra)

3. Kumbhakārajātaka

1076. “Tôi đã nhìn thấy ở giữa khu rừng một cây xoài đã hoàn toàn phát triển, trĩu quả, có ánh sáng màu lục sẫm. Tôi đã nhìn thấy cây xoài bị tan tành vì nguyên nhân trổ quả. Sau khi nhìn thấy việc ấy, tôi thực hành hạnh khất thực.”

1077. “Chiếc vòng ngọc khéo mài giũa đã được hoàn thành bởi nghệ nhân. Người phụ nữ đã đeo vào một cặp (mỗi tay một chiếc) không gây tiếng động. Và sau khi mang vào cặp thứ hai, đã có tiếng động. Sau khi nhìn thấy việc ấy, tôi thực hành hạnh khất thực.”

1078. “Trong khi con chim đang tha đi miếng thịt, nhiều con chim đã tụ tập lại và tấn công vì nguyên nhân vật thực. Sau khi nhìn thấy việc ấy, tôi thực hành hạnh khất thực.”

1079. “Tôi đã nhìn thấy ở giữa bầy bò một con bò mộng có bướu lắc lư, được thành tựu về vóc dáng và sức mạnh. Tôi đã nhìn thấy nó bị húc ngã vì nguyên nhân dục vọng. Sau khi nhìn thấy việc ấy, tôi thực hành hạnh khất thực.”

1080. “Vị tên Karaṇḍu ở xứ sở Kaliṅga, vị Naggaji ở xứ sở Gandhāra, vua Nimi ở xứ sở Videha, và vị Dummukha ở xứ sở Pañcāla, các vị này sau khi từ bỏ các vương quốc đã xuất gia, không có sở hữu gì.

1081. Toàn bộ tất cả các vị này, được sánh bằng chư Thiên, đã tụ hội lại. Ngọn lửa chiếu sáng như thế nào thì các vị này là tương tự y như thế ấy. Này nàng Bhaggavī, ta cũng sẽ sống chỉ một mình, sau khi từ bỏ các dục tùy theo mức giới hạn (của chúng).

1082. “Chính là thời điểm này, bởi vì không có thời điểm nào khác. Người chỉ dạy cho thiếp không có thể có được về sau này. Này chàng Bhaggava, thiếp cũng sẽ sống chỉ một mình, tựa như con chim được thoát khỏi bàn tay của loài người.

1083. “Các con biết được cơm còn sống và đã chín, rồi mặn hoặc thiếu muối. Sau khi nhìn thấy điều ấy, ta đã xuất gia. Nàng hãy thực hành hạnh khất thực, ta cũng sẽ thực hành.”