Bản dịch
JA 400 — Chuyện Hoa Cỏ Kusa (Biệt hiệu của Chó rừng - Tiền thân Dabbhapuppha)
5. Dabbhapupphajātaka
1016. “Này bạn Anutīracārī đáng kính, bạn hãy chạy đến chỗ tôi. Tôi đã bắt được con cá lớn, nó lôi tôi đi bằng sức mạnh.”
1017. “Này bạn Gambhīracārī đáng kính, bạn hãy nắm chặt bằng sức lực. Tôi sẽ kéo nó lên tựa như con linh điểu chộp lấy con rắn.”
1018. “Sự tranh cãi đã sanh khởi giữa chúng tôi, này ông bạn có bộ lông màu bông hoa cỏ, xin hãy lắng nghe tôi. Này bạn, xin bạn hãy làm lắng dịu sự gây gỗ. Mong rằng sự tranh cãi được lặng yên.”
1019. “Trước đây, ta đã là người duy trì công lý, nhiều vụ kiện đã được ta phân xử. Ta sẽ làm lắng dịu sự gây gỗ. Sự tranh cãi hãy được lặng yên.
1020. Anutīracārī là cái đuôi, cái đầu thuộc về Gambhīracārī, còn phần thân ở giữa này thì sẽ thuộc về người duy trì công lý.”
1021. “Nếu chúng ta không tranh cãi thì có thể có thức ăn cũng được lâu. Con chó rừng tha đi phần thân cá hồi, bỏ lại đầu, bỏ lại đuôi.”
1022. “Cũng giống như vị vua dòng Sát-đế-lỵ có thể vui mừng sau khi tiếp thu vương quốc, tương tự như vậy, thiếp hôm nay vui mừng sau khi nhìn thấy chồng với miệng ngậm đầy ắp (cá tươi).
1023. Trong khi là loài sanh ra ở đất liền, làm thế nào chàng đã bắt được cá ở trong nước? Chàng ơi, được thiếp hỏi, xin chàng hãy giải thích, làm thế nào chàng đã đạt được cá?”
1024. “Chúng trở nên gầy ốm vì tranh cãi, chúng có tài sản bị cạn kiệt vì tranh cãi, hai con rái cái bị thua thiệt vì tranh cãi. Này nàng Māyāvī, nàng hãy ăn con cá hồi.”
1025. “Tương tự như vậy, nơi nào nảy sanh sự tranh cãi giữa những người dân, họ liền chạy đến người duy trì công lý, chính vị ấy là người hướng dẫn cho họ, các tài sản ở nơi ấy bị thất thoát, còn công khố của nhà vua tăng thêm.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Anutīracārī bhaddante, sahāyamanudhāva maṃ;
Mahā me gahito † maccho, so maṃ harati vegasā.
O bank-walker, may it be well with you! Run after me, your friend! A great fish has been seized by me, and it carries me away with force.
Này bạn rái cá ven bờ, mong bạn được an lành! Này bạn, hãy đuổi theo ta. Một con cá lớn đã bị ta bắt, nó đang kéo ta đi với tốc độ nhanh.
30.
30.
30.
Gambhīracārī bhaddante, daḷhaṃ gaṇhāhi thāmasā;
Ahaṃ taṃ uddharissāmi, supaṇṇo uragāmiva †.
O deep-farer, may it be well with you! Hold on firmly with all your strength! I will pull you out, just as a supaṇṇa pulls out a serpent.
Này bạn rái cá nước sâu, mong bạn được an lành! Hãy nắm cho thật chắc bằng hết sức mình. Ta sẽ kéo ngươi lên, giống như chim thần supaṇṇa bắt rắn.
31.
31.
31.
Vivādo no samuppanno, dabbhapuppha suṇohi me;
Samehi medhagaṃ † samma, vivādo vūpasammataṃ.
A dispute has arisen between us, O Dabbhapuppha, listen to me! Settle the quarrel, friend; may the dispute be pacified.
Này Dabbhapuppha, hãy nghe tôi. Một cuộc tranh cãi đã phát sinh giữa chúng tôi. Này bạn, hãy giải quyết cuộc xung đột, mong cuộc tranh cãi được dập tắt.
32.
32.
32.
Dhammaṭṭhohaṃ pure āsiṃ, bahū aḍḍā me tīritā †;
Samemi medhagaṃ samma, vivādo vūpasammataṃ.
I was a judge in the past; many cases have been decided by me. I will settle the quarrel, friend; may the dispute be pacified.
Trước đây ta từng là một vị quan tòa, ta đã phân xử nhiều vụ kiện. Này bạn, ta sẽ giải quyết cuộc xung đột, mong cuộc tranh cãi được dập tắt.
33.
33.
33.
Anutīracāri naṅguṭṭhaṃ, sīsaṃ gambhīracārino;
Accāyaṃ † majjhimo khaṇḍo, dhammaṭṭhassa bhavissati.
The tail for the bank-walker, the head for the deep-farer. This middle section beyond them will be for the judge.
Rái cá ven bờ lấy phần đuôi, phần đầu cho rái cá nước sâu. Phần giữa này còn lại sẽ thuộc về vị quan tòa.
34.
34.
34.
Cirampi bhakkho abhavissa, sace na vivademase;
Asīsakaṃ anaṅguṭṭhaṃ, siṅgālo harati rohitaṃ.
The food would have been ours for a long time, if we had not quarreled. The jackal carries away the rohita fish, without head and without tail.
Nếu chúng ta đã không tranh cãi, thức ăn đã có thể có được trong một thời gian dài. Con chó rừng mang đi con cá rohita, phần không đầu không đuôi.
35.
35.
35.
Yathāpi rājā nandeyya, rajjaṃ laddhāna khattiyo;
Evāhamajja nandāmi, disvā puṇṇamukhaṃ patiṃ.
Just as a khattiya king would rejoice, having obtained a kingdom, so too do I rejoice today, seeing my husband with his mouth full.
Giống như một vị vua dòng Sát-đế-lỵ hoan hỷ khi nhận được vương quốc, cũng vậy, hôm nay ta hoan hỷ khi thấy chồng miệng ngậm đầy thức ăn.
36.
36.
36.
Kathaṃ nu thalajo santo, udake macchaṃ parāmasi;
Puṭṭho me samma akkhāhi, kathaṃ adhigataṃ tayā.
My dear, being one born on land, how indeed did you get a fish in the water? Being asked by me, please tell: how was it obtained by you?
Này bạn, là một sinh vật trên cạn, làm thế nào mà bạn lại bắt được cá dưới nước? Khi được hỏi, hãy nói cho ta biết, làm thế nào mà bạn đã có được nó?
37.
37.
37.
Vivādena kisā honti, vivādena dhanakkhayā;
Jīnā uddā vivādena, bhuñja māyāvi rohitaṃ.
Through quarreling, beings become lean; through quarreling, there is loss of wealth. The otters were defeated by a quarrel. Eat the rohita fish, my clever one.
Do tranh cãi mà chúng trở nên gầy yếu, do tranh cãi mà tài sản bị tiêu tan. Hai con rái cá đã bị thua thiệt do tranh cãi. Này Māyāvī, hãy ăn con cá rohita đi.
38.
38.
38.
Evameva manussesu, vivādo yattha jāyati;
Dhammaṭṭhaṃ paṭidhāvanti, so hi nesaṃ vināyako;
Dhanāpi tattha jīyanti, rājakoso pavaḍḍhatīti †.
Just so among humans, wherever a dispute arises, they resort to a judge, for he is their arbiter. There, wealth is lost, and the royal treasury increases.
Cũng vậy, ở nơi nào trong loài người mà cuộc tranh cãi phát sinh, ở nơi đó, họ tìm đến vị quan tòa. Vị ấy quả là người giải quyết cho họ. Ở nơi đó, tài sản cũng bị mất mát, và kho báu của nhà vua thì tăng trưởng.
Dabbhapupphajātakaṃ pañcamaṃ.
The Dabbhapuppha Jātaka, the Fifth.
Chuyện Bổn Sanh Dabbhapuppha, phần thứ năm.