Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 399

Bản dịch

JA 399Chuyện Chim Thứu (Tiền thân Gijjha)

4. Mātuposakagijjhajātaka

1009. “Cha mẹ già ngụ ở hang núi, họ sẽ làm thế nào? Ta đã bị vướng vào bẫy, đã sa vào quyền lực của thợ săn Nīliya.”

1010. “Này chim kên kên, ngươi than khóc về việc gì? Việc than khóc của người là sao? Ta chưa từng được nghe hoặc nhìn thấy con chim nói tiếng người.”

1011. “Tôi phụng dưỡng mẹ và cha đã già ngụ ở hang núi. Họ sẽ làm thế nào khi tôi đã sa vào quyền lực của ông?”

1012. “Có lời đồn rằng loài chim kên kên nhìn thấy các xác chết cách xa một trăm do-tuần, tại sao ngươi đến gần mà cũng không nhận ra lưới giăng và bẫy sập?”

1013. “Khi con người có sự rủi ro vào lúc tiêu hoại mạng sống, thì dầu cho đến gần cũng không nhận ra lưới giăng và bẫy sập.”

1014. “Ngươi hãy phụng dưỡng mẹ và cha đã già ngụ ở hang núi. Ngươi được ta cho phép, ngươi hãy gặp lại các thân quyến một cách an toàn.

1015. “Tương tự như vậy, này người thợ săn, mong ông được hạnh phúc cùng với tất cả thân quyến. Tôi sẽ phụng dưỡng mẹ và cha đã già ngụ ở hang núi.”