Bản dịch
JA 391 — Chuyện Vị Tà Thuật Sư (Tiền thân Dhajavihetha)
6. Vijjādharajātaka
956. “Ngài là người có vóc dáng cao cả, và ngài tôn vinh, chắp tay lại, lễ bái đến vị có bề ngoài xấu xí. Vị ấy là tốt hơn hay là tương đương với ngài? Xin ngài hãy nói tên của vị ấy và luôn cà tên của bản thân ngài.”
957. “Tâu bệ hạ, chư Thiên trong số các vị đã đi đúng đường lối hoặc đã đi theo con đường ngay thẳng thì không nắm giữ danh xưng và dòng họ. Và tôi nói cho bệ hạ tên gọi của tôi. Tôi là Thiên Chủ Sakka, chúa của chư Thiên cõi Tam Thập.
958. “Người nào sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu thành tựu về giới hạnh, thì tôn vinh, chắp tay lại, lễ bái. thưa Thiên Vương, trẫm hỏi ngài về ý nghĩ của việc này, người ấy nhận được hạnh phúc gì sau khi từ nơi này chết đi?”
959. “Người nào sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu thành tựu về giới hạnh, thì tôn vinh, chắp tay lại, lễ bái, ngay trong kiếp hiện tại này, nhận được sự khen ngợi, và người ấy đi đến cõi trời khi cơ thể rã tan.”
960. “May mắn quả thật đã sanh khởi đến trẫm hôm nay, là việc chúng tôi đã nhìn thấy vị Thiên Chủ, chúa của các Thiên thần. Và thưa Sakka, hôm nay sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu của ngài, trẫm sẽ làm các việc phước thiện không phải là ít.”
961. “Quả thật, đúng vậy, nên thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, là những vị có những suy nghĩ bao quát. Và tâu bệ hạ, sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu của ta, bệ hạ hãy làm các việc phước thiện không phải là ít.”
962. “Thưa vị Chúa của chư Thiên, sau khi lắng nghe những lời khéo nói, trẫm sẽ không có sự giận dữ, thường xuyên có tâm tịnh tín, sau khi đáp ứng sự yêu cầu của tất cả những người khách lạ, trẫm sẽ dẹp bỏ sự ngã mạn, và sẽ chí thành đảnh lễ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dubbaṇṇarūpaṃ tuvamariyavaṇṇī, purakkhatvā † pañjaliko namassasi;
Seyyo nu te so udavā † sarikkho, nāmaṃ parassattano cāpi brūhi.
You who have a fine complexion, having placed before you a monk of unattractive appearance, you pay homage with hands joined in reverence. Is he superior to you, or is he your equal? Tell me the name of the other and of yourself as well.
Ngươi có dung sắc cao quý, lại tôn kính, chắp tay đảnh lễ một vị có hình sắc xấu xí. Vị ấy hơn ngươi, hay là tương đương với ngươi? Hãy cho biết tên của vị kia và cả tên của ngươi nữa.
109.
109.
109.
Na nāmagottaṃ gaṇhanti rāja, sammaggatānujjugatāna † devā;
Ahañca te nāmadheyyaṃ vadāmi, sakkohamasmī tidasānamindo.
O king, the devas do not grasp the name and clan of those who have gone rightly, who have gone straight. And I shall tell you my name: I am Sakka, the ruler of the devas.
391. Tâu Đại vương, chư thiên không biết tên và dòng họ của những bậc đã đạt đến chánh đạo, đã đi con đường ngay thẳng. Còn ta, ta sẽ cho ngài biết tên của ta: Ta là Sakka, vua của chư thiên.
110.
110.
110.
Yo disvā bhikkhuṃ caraṇūpapannaṃ, purakkhatvā pañjaliko namassati;
Pucchāmi taṃ devarājetamatthaṃ, ito cuto kiṃ labhate sukhaṃ so.
O king of devas, whoever, having seen a monk endowed with virtuous conduct, places him in front and pays homage with hands joined in reverence—I ask you about this matter: when that person passes away from this existence, what happiness does he obtain?
Người nào thấy vị Tỳ-khưu có đầy đủ giới hạnh, liền tôn kính, chắp tay đảnh lễ; tôi xin hỏi Thiên chủ về điều này: sau khi mệnh chung từ đời này, người ấy sẽ được an lạc gì?
111.
111.
111.
Yo disvā bhikkhuṃ caraṇūpapannaṃ, purakkhatvā pañjaliko namassati;
Diṭṭheva dhamme labhate pasaṃsaṃ, saggañca so yāti sarīrabhedā.
Whoever, having seen a monk endowed with virtuous conduct, places him in front and pays homage with hands joined in reverence, obtains praise in this very life. After the breaking up of the body, he also goes to the heavenly realm.
Người nào thấy vị Tỳ-khưu có đầy đủ giới hạnh, liền tôn kính, chắp tay đảnh lễ; người ấy được tán thán ngay trong đời hiện tại, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh về cõi trời.
112.
112.
112.
Lakkhī vata me udapādi ajja, yaṃ vāsavaṃ bhūtapatiddasāma;
Bhikkhuñca disvāna tuvañca sakka, kāhāmi puññāni anappakāni.
Indeed, glory has arisen for me today, in that we have seen Vāsava, the lord of beings. Having seen the monk and you, O Sakka, I shall perform abundant meritorious deeds.
Hôm nay, quả thật vận may đã đến với ta, vì ta được thấy Vāsava, chúa của các loài hữu tình. Hỡi Sakka, sau khi được thấy vị Tỳ-khưu và cả ngài, ta sẽ làm các công đức vô lượng.
113.
113.
113.
Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Bhikkhuñca disvāna mamañca rāja, karohi puññāni anappakāni.
Indeed, O king, one should associate with those who are wise, learned, and capable of reflecting on many matters. Having seen the monk and me, perform abundant meritorious deeds.
Tâu Đại vương, quả thật nên thân cận những bậc có trí tuệ, đa văn, những người suy xét được nhiều vấn đề. Sau khi được thấy vị Tỳ-khưu và cả ta, hãy làm các công đức vô lượng.
114.
114.
114.
Akkodhano niccapasannacitto, sabbātithīyācayogo bhavitvā;
Nihacca mānaṃ abhivādayissaṃ, sutvāna devinda subhāsitānīti.
O lord of devas, having heard your well-spoken words, I will become free from anger, with a mind ever serene, devoted to all guests and visitors. Having subdued my pride, I will pay homage.
Sau khi nghe những lời thiện thuyết của Thiên chủ, con sẽ không sân hận, luôn có tâm tịnh tín, sẵn sàng đáp ứng lời thỉnh cầu của mọi khách đến, dẹp bỏ ngã mạn và xin đảnh lễ.
Vijjādhara † jātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Vijjādhara Jātaka, the sixth.
Chuyện Bổn Sanh Vijjādhara, thứ sáu.
392. Siṅghapupphajātakaṃ (6-2-7)
392. The Siṅghapuppha Jātaka (6-2-7)
392. Chuyện Tiền Thân Siṅghapuppha (6-2-7)
115.
115.
115.