Bản dịch
JA 389 — Chuyện Con Cua Vàng (Tiền thân Suvannakakkata)
4. Suvaṇṇakakkaṭajātaka
942. “Con vật có càng, có mắt lồi, có lớp vỏ cứng, sống ở trong nước, không có lông. Bị nó chế ngự, tôi khóc lóc thảm thương. Nè, này bạn, tại sao bạn lại bỏ rơi tôi?”
943. “Là bạn bè đang bảo vệ bạn bè, con rắn ấy, trong lúc thở phì phì bằng cái mang lớn, đã lao đến con cua. Con cua đã kẹp lấy con rắn.”
944. “Con cua đã kẹp lấy con quạ và luôn cả con rắn chúa không phải vì mục đích thức ăn. Này con thú có mắt lồi, ta hỏi ông rằng: Vì nguyên nhân gì mà cả hai chúng tôi bị ông kìm kẹp?”
945. “Người này có sự mong muốn điều lợi ích cho tôi; vị này đã vớt tôi lên và đưa ra khỏi hồ nước. Nếu vị ấy chết đi, khổ đau sẽ có cho tôi không phải là ít. Tôi và vị này không phải là hai người.
946. Và sau khi nhìn thấy tôi có thân thể phát triển, tất cả mọi người đều mong muốn giết chết tôi ngay, (nghĩ rằng) thịt con cua này ngọt, béo, và mềm mại. Các con quạ cũng vậy, sau khi nhìn thấy, cũng sẽ hãm hại tôi.”
947. “Nếu cả hai chúng tôi bị ông kìm kẹp vì nguyên nhân người ấy, thì hãy giải độc cho người ấy, tôi sẽ hút ra chất độc. Và hãy lập tức phóng thích tôi và con quạ, trước khi chất độc ngấm sâu vào trong người ấy.”
948. “Tôi sẽ phóng thích con rắn, nhưng con quạ thì chưa; hãy để con quạ là vật được giữ lại làm con tin. Và sau khi nhìn thấy người ấy khỏe khoắn, không bệnh, tôi sẽ phóng thích con quạ, giống y như con rắn vậy.”
949. “Khi ấy, con quạ đã là Devadatta, còn Ma Vương đã là con rắn độc màu đen, Ānanda hiền thiện đã là con cua, khi ấy, ta đã là vị đạo sư Bà-la-môn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
So passasanto mahatā phaṇena, bhujaṅgamo kakkaṭamajjhapatto;
Sakhā sakhāraṃ paritāyamāno, bhujaṅgamaṃ kakkaṭako gahesi.
That serpent, exhaling with its great hood, approached the crab. The crab, a friend protecting his friend, seized the serpent.
Con rắn ấy phì hơi với cái mang lớn, đã đến gần con cua; Con cua, để bảo vệ bạn của mình, đã bắt lấy con rắn.
96.
96.
96.
Na vāyasaṃ no pana kaṇhasappaṃ, ghāsatthiko kakkaṭako adeyya;
Pucchāmi taṃ āyatacakkhunetta, atha kissa hetumha ubho gahītā.
O long-eyed one, a crab desirous of food should not seize a crow, nor should it seize a black cobra. Yet, for what reason have we both been seized? I ask you this.
Hỡi cua có đôi mắt dài, kẻ muốn ăn thịt không nên bắt con quạ, cũng không nên bắt con rắn hổ mang. Tôi hỏi ngươi, vì lý do gì mà cả hai chúng tôi đều bị bắt?
97.
97.
97.
Ayaṃ puriso mama atthakāmo, yo maṃ gahetvāna dakāya neti;
Tasmiṃ mate dukkhamanappakaṃ me, ahañca eso ca ubho na homa.
This man who, having taken me, leads me, is my well-wisher. If he dies, great suffering will befall me. Both this man and I shall not prosper.
Người đàn ông này mong muốn lợi ích cho tôi, người đã bắt tôi mang đi. Nếu người ấy chết, tôi sẽ có nỗi khổ không nhỏ. Cả tôi và người này, cả hai chúng tôi sẽ không được an ổn.
98.
98.
98.
Mamañca disvāna pavaddhakāyaṃ, sabbo jano hiṃsitumeva micche;
Sāduñca thūlañca muduñca maṃsaṃ, kākāpi maṃ disvāna † viheṭhayeyyuṃ.
Seeing me with my large body, all people would wish only to harm me. Seeing me, one with sweet, plump, and tender flesh, even crows would harass me.
Thấy tôi có thân hình to lớn, mọi người chỉ muốn hãm hại. Thịt của tôi vừa ngon, vừa béo, vừa mềm, nên cả bầy quạ khi thấy tôi cũng sẽ hành hạ.
99.
99.
99.
Sacetassa hetumha ubho gahītā, uṭṭhātu poso visamāvamāmi †;
Mamañca kākañca pamuñca khippaṃ, pure visaṃ gāḷhamupeti maccaṃ.
If we both have been seized for his sake, let the man arise; I shall draw out the poison. Release me and the crow quickly, before the poison deeply penetrates the man.
Nếu ngươi bắt cả hai chúng tôi vì người đàn ông này, hãy để người ấy đứng dậy, tôi sẽ rút nọc độc. Hãy mau thả cả tôi và con quạ ra, trước khi nọc độc ngấm sâu vào người ấy.
100.
100.
100.
Sappaṃ pamokkhāmi na tāva kākaṃ, paṭibandhako † hohiti † tāva kāko;
Purisañca disvāna sukhiṃ arogaṃ, kākaṃ pamokkhāmi yatheva sappaṃ.
I shall release the snake, but not yet the crow. For now, the crow shall be my security. Having seen the man happy and without illness, I shall release the crow just as I released the snake.
Ta sẽ thả con rắn, nhưng chưa thả con quạ; con quạ trước hết sẽ là vật bảo chứng. Khi thấy người đàn ông được an vui, không bệnh tật, ta sẽ thả con quạ giống như đã thả con rắn.
101.
101.
101.
Kāko tadā devadatto ahosi, māro pana kaṇhasappo ahosi;
Ānandabhaddo kakkaṭako ahosi, ahaṃ tadā brāhmaṇo homi satthāti †.
At that time, the crow was Devadatta; the black cobra was Māra; the good crab was Ānanda; and I, the Teacher, was the brahmin at that time.
Khi ấy, con quạ là Devadatta, còn con rắn hổ mang là Māra. Con cua hiền lành là Ānanda, còn Ta, bậc Đạo Sư, khi ấy là người Bà-la-môn.
Suvaṇṇakakkaṭajātakaṃ catutthaṃ.
The Suvaṇṇakakkaṭa Jātaka, the fourth.
Chuyện Bổn Sanh Con Cua Vàng, thứ tư.