Bản dịch
JA 385 — Chuyện Lộc Vương Hoan Hỷ (Tiền thân Nandiyamiga)
10. Nandiyamigarājajātaka
918. “Này Bà-la-môn, nếu ngài đi đến khu rừng Añjanā ở Sāketa, xin ngài nói với con trai ruột của chúng tôi tên là Nandiya rằng: ‘Mẹ và cha của ngươi đã già, các vị ấy mong muốn được gặp ngươi.’”
919. “Tôi đã thọ dụng các vật nuôi dưỡng, nước uống và thức ăn của đức vua, này Bà-la-môn, tôi không thể ăn không vật thực ấy của đức vua mà không đền đáp.
920. Tôi sẽ phô bày phần bên hông về phía cung tên của đức vua, khi ấy tôi được tự do, thoải mái, và tôi có thể gặp gỡ mẹ của tôi.”
921. “Trước đây, ta đã là con nai chúa ở Niketava thuộc xứ Kosala, tên là Nandiya, là loài bốn chân có vóc dáng xinh đẹp.
922. Vị vua xứ Kosala đã đi đến để giết chết chính ta ở vườn nai thuộc khu rừng Añjanā. Vị vua đã kéo căng dây cung và kết hợp với mũi tên.
923. Ta đã phô bày phần bên hông về phía cung tên của vị vua ấy, khi ấy ta được tự do, thoải mái, ta đã đi đến gặp gỡ mẹ của ta.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sace brāhmaṇa gacchesi, sākete † ajjunaṃ † vanaṃ;
Vajjāsi nandiyaṃ nāma, puttaṃ asmākamorasaṃ;
Mātā pitā ca te vuddhā, te taṃ icchanti passituṃ.
“Brahmin, if you go to Sāketa, to the Ajjuna Wood, please tell our own true-born son, the one named Nandiya: ‘Your mother and father are old; they wish to see you.’”
Này Bà-la-môn, nếu ông đi đến Sāketa, đến khu rừng Ajjuna, xin hãy nói với Nandiya, đứa con ruột của chúng tôi rằng: 'Cha mẹ của con đã già rồi, họ muốn được gặp con'.
71.
71.
71.
Bhuttā mayā nivāpāni, rājino pānabhojanaṃ;
Taṃ rājapiṇḍaṃ avabhottuṃ †, nāhaṃ brāhmaṇa mussahe.
“Brahmin, I have eaten the king's provisions, his food and drink. I am not able to be ungrateful for the king's provision.”
Này Bà-la-môn, tôi đã ăn phần thức ăn, đồ uống của nhà vua. Tôi không thể nào phản bội lại vật thực của vua ấy được.
72.
72.
72.
Odahissāmahaṃ passaṃ, khurappānissa † rājino;
Tadāhaṃ sukhito mutto, api passeyya mātaraṃ.
“I will offer my flank to the king's razor-arrow. Then, happy and freed, I might see my mother.”
Tôi sẽ đưa hông ra cho mũi tên sắc bén của nhà vua. Khi đó, được an lạc và giải thoát, tôi có lẽ sẽ được gặp mẹ.
73.
73.
73.
Migarājā pure āsiṃ, kosalassa niketane †;
Nandiyo nāma nāmena, abhirūpo catuppado.
“Formerly, I was a deer-king in the abode of the Kosala king, Nandiya by name, a handsome quadruped.”
Xưa kia, Ta là một vua nai trong nơi ở của vua Kosala, tên là Nandiya, có hình dáng đẹp, là loài bốn chân.
74.
74.
74.
Taṃ maṃ vadhitumāgacchi, dāyasmiṃ ajjune vane;
Dhanuṃ ārajjaṃ † katvāna, usuṃ sannayha † kosalo.
“The Kosalan king came to kill me in the Ajjuna Wood preserve, having strung his bow and fitted an arrow.”
Vua Kosala đã đến khu rừng Ajjuna để giết ta, sau khi giương cung và lắp tên.
75.
75.
75.
Tassāhaṃ odahiṃ passaṃ, khurappānissa rājino;
Tadāhaṃ sukhito mutto, mātaraṃ daṭṭhumāgatoti.
“To that king I offered my flank for his razor-arrow. Then, happy and freed, I came to see my mother.”
Ta đã đưa hông ra cho mũi tên sắc bén của nhà vua ấy. Khi đó, Ta được an lạc và giải thoát, đã trở về để gặp mẹ.
Nandiyamigarājajātakaṃ dasamaṃ.
The Nandiyamigarāja Jātaka—the tenth.
Chuyện Bổn sanh Vua Nai Nandiya là chuyện thứ mười.
Avāriyavaggo paṭhamo.
The Avāriya Chapter—the first.
Phẩm Avāriya là phẩm thứ nhất.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Kệ tóm tắt của phẩm ấy là –
Atha kujjharathesabha ketuvaro, sadarīmukha neru latā ca puna;
Apananda sirī ca sucittavaro, atha dhammika nandimigena dasāti.
Then Kujjha, Rathesabha, and the excellent Ketu, with Darīmukha, Neru, and Latā again; Apananda, Sirī, and the excellent Sucitta, then Dhammika, and with Nandimiga make ten.
Kế đến, (các chuyện) Kujjara, Thesabhā, Ketuvara, cùng với Darīmukha, Neru, và Latā; lại nữa, Apananda, Sirī, và Sucittavara; rồi Dhammika cùng với Nandimiga, là mười (chuyện).