Bản dịch
JA 383 — Chuyện Kê Vương (Tiền thân Kukkuta)
8. Kukkuṭajātaka
905. “Hỡi loài chim có lớp vỏ bọc bằng lông với màu sắc sặc sỡ, có mồng đỏ chói, từ nơi cành cây chàng hãy đáp xuống, thiếp sẽ là người vợ không sính lễ của chàng.”
906. “Này người đẹp, nàng có bốn chân. Này cô nàng quyến rũ, ta có hai chân. Loài thú và loài chim không kết hợp được, nàng hãy tìm kẻ khác làm chồng.”
907. “Thiếp sẽ là người vợ trinh nguyên của chàng, có giọng nói ngọt ngào, có lời nói đáng yêu. Chàng hãy tiếp nhận thiếp với niềm vui thánh thiện, nếu chàng muốn chàng có thể tuyên bố thiếp là nữ tỳ.”
908. “Này cô nàng hút máu các loài chim, này nữ tặc, này cô nàng sát hại gà trống, nàng muốn ta làm chồng không vì niềm vui thánh thiện.”
909. “Cũng tương tự như vậy, những người nữ khôn lanh, sau khi nhìn thấy người nam cao quý, thì dụ dỗ bằng những lời nói mềm mỏng, ví như con mèo cái dụ dỗ con gà trống.
910. Thật vậy, người nào không mau chóng nhận biết sự việc đã nảy sanh, rồi đi theo sự khống chế của kẻ thù, về sau sẽ hối tiếc.
911. Và người nào nhận chân sự việc đã nảy sanh thật mau chóng, người ấy thoát khỏi sự ngược đãi của kẻ thù, tựa như con gà trống với con mèo cái vậy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sucittapattachadana, tambacūḷa vihaṅgama;
Oroha dumasākhāya, mudhā bhariyā bhavāmi te.
O bird with very wonderful wings and a red crest, descend from the tree branch; I will become your wife for nothing.
Hỡi con chim có bộ lông cánh đẹp đẽ, hỡi con chim có mào màu đồng! Hãy xuống đây từ cành cây, ta sẽ là vợ của chàng mà không cần gì cả.
58.
58.
58.
Catuppadī tvaṃ kalyāṇi, dvipadāhaṃ manorame;
Migī pakkhī asaññuttā, aññaṃ pariyesa sāmikaṃ.
383. You are a quadruped, O beautiful one; I am a biped, O delightful one. A beast and a bird are not compatible; seek another husband.
Này nàng tốt lành, nàng là loài bốn chân, này nàng khả ái, ta là loài hai chân. Thú và chim không tương hợp, nàng hãy tìm một người chồng khác đi.
59.
59.
59.
Komārikā te hessāmi, mañjukā piyabhāṇinī;
Vinda maṃ ariyena vedena, sāvaya maṃ yadicchasi.
I will be your youthful bride, pleasant-voiced and sweet-spoken. Obtain me by the noble custom, and instruct me as you wish.
Em sẽ là người vợ còn trinh của chàng, có tiếng ngọt ngào, nói lời đáng yêu. Hãy cưới em theo cách của bậc cao quý. Nếu chàng muốn, hãy biến em thành nữ tỳ.
60.
60.
60.
Kuṇapādini lohitape, cori kukkuṭapothini;
Na tvaṃ ariyena vedena, mamaṃ bhattāramicchasi.
O eater of carrion, drinker of blood, O thief, slayer of chickens! You do not desire me as a husband by the noble custom.
Hỡi kẻ ăn xác thối, kẻ uống máu, kẻ trộm cắp, kẻ giết gà! Ngươi không muốn ta làm chồng theo cách của bậc cao quý đâu.
61.
61.
61.
Evampi caturā † nārī, disvāna sadhanaṃ † naraṃ;
Nenti saṇhāhi vācāhi, biḷārī viya kukkuṭaṃ.
Even so, clever women, upon seeing a wealthy man, lead him with gentle words, just as the she-cat leads the rooster.
Cũng vậy, những người phụ nữ khôn khéo, khi thấy người đàn ông có tài sản, liền dẫn dụ bằng những lời nói ngọt ngào, giống như con mèo cái đối với con gà trống.
62.
62.
62.
Yo ca uppatitaṃ atthaṃ, na khippamanubujjhati;
Amittavasamanveti, pacchā ca anutappati.
Whoever does not quickly understand a matter that has arisen falls under the sway of his enemies and afterwards grieves.
Người nào không nhanh chóng nhận ra sự việc đã phát sinh, người ấy rơi vào quyền lực của kẻ thù, và sau đó phải hối hận.
63.
63.
63.
Yo ca uppatitaṃ atthaṃ, khippameva nibodhati;
Muccate sattusambādhā, kukkuṭova biḷāriyāti.
But whoever quickly understands a matter that has arisen is freed from the oppression of his foes, like the rooster from the she-cat.
Còn người nào nhận ra sự việc đã phát sinh một cách nhanh chóng, người ấy được giải thoát khỏi sự áp bức của kẻ thù, giống như con gà trống thoát khỏi con mèo cái vậy.
Kukkuṭajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Kukkuṭa Jātaka—the eighth.
Chuyện Bổn sanh Con Gà Trống là chuyện thứ tám.