Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 382

Bản dịch

JA 382Chuyện Hai Thiên Nữ Siri Và Kàlakanni (Tiền thân Siri-Kàlakanni)

7. Sirikāḷakaṇṇijātaka

887. “Nàng nào có màu da đen, và không có vẻ đáng mến? Nàng là ai, hoặc là con gái của ai, làm thế nào chúng tôi có thể biết về nàng?”

888. “Thiếp là con gái của đại vương Virūpakkha có tánh dữ tợn. Thiếp là Kāḷī, là người nữ bất hạnh . Người ta biết rõ thiếp là Kāḷakaṇṇī. Được yêu cầu về chỗ ngụ, xin ngài hãy ban cho. Hãy để cho bọn thiếp cư ngụ bên cạnh ngài.”

889. “Nàng để ý đến người nam có giới đức gì, có tánh hạnh gì? Này Kāḷī, được tôi hỏi, xin nàng hãy giải thích cho chúng tôi có thể biết về nàng.”

890. “Người nam nào có sự gièm pha, ác ý, hung hăng, ganh tỵ, bỏn xẻn, lường gạt, kẻ ấy, đối với thiếp, là người nam đáng yêu; (thiếp sẽ làm cho) phần tài sản của cải đã đạt được của kẻ ấy bị tiêu hoại.”

891. “Người nam nào giận dữ, thù hằn, đâm thọc, và là kẻ ly gián, có lời nói xóc xỉa, thô lỗ, kẻ ấy, đối với thiếp, là người nam đáng yêu hơn người kia.

892. Người nam không nhận chân được việc có lợi ích (nghĩ rằng): ‘Việc hôm nay, hãy để đến ngày mai,’ là kẻ bị bực tức trong khi được giáo huấn, khi dể người vượt trội mình.

893. Người nam bị dính mắc vào các thú vui, bị các bạn bè ruồng bỏ, kẻ ấy, đối với thiếp, là người nam đáng yêu; thiếp không phải sầu khổ với kẻ ấy.”

894. “Này Kāḷī, nàng hãy đi khỏi đây, các điều ấy không tìm thấy ở chúng tôi. Nàng hãy đi đến xứ sở khác, đến các thị trấn, đến các kinh thành.”

895. “Quả thật, thiếp cũng biết được chàng, các điều ấy không tìm thấy ở chàng. Ở thế gian có những kẻ không may mắn, họ tom góp được nhiều tài sản, thiếp và vị Thiên nhân anh trai của thiếp, cả hai người thiếp có thể làm tiêu tan tài sản ấy.”

896. “Nàng nào đã khéo hiện ra ở trái đất với màu sắc thuộc cõi Trời? Nàng là ai, hoặc là con gái của ai, làm thế nào chúng tôi có thể biết về nàng?”

897. “Thiếp là con gái của đại vương Dhataraṭṭha có sự vinh quang. Thiếp là Sirī, và là người nữ may mắn. Người ta biết rõ thiếp là Bhūripaññā. Được yêu cầu về chỗ ngụ, xin ngài hãy ban cho. Hãy để cho chúng tôi cư ngụ bên cạnh ngài.”

898. “Nàng để ý đến người nam có giới đức gì, có tánh hạnh gì? Này người nữ may mắn, được tôi hỏi, xin nàng hãy giải thích cho chúng tôi có thể biết về nàng.”

899. “Người nam nào chịu đựng tất cả các sự lạnh hoặc là nóng, gió và nắng, ruồi và các loài bò sát, đói, khát, người nam nào đêm ngày thường xuyên gắn bó (với bổn phận), và không bê trễ việc lợi ích khi thời điểm đến, người ấy là ưng ý đối với thiếp; thiếp để ý đến người ấy.

900. Người nam nào không giận dữ, có sự thân thiện, và có sự xả thí, có giới hạnh, không lường gạt, có bản tính ngay thẳng, là người hào phóng, nói năng tử tế, có lời nói mềm mỏng, dầu đạt được địa vị lớn lao, cũng vẫn có thái độ khiêm tốn.

901. 902. Vì thế, ở nơi người nam ấy, thiếp trở nên không còn nhỏ bé, cũng giống như đối với những người đang quan sát màu sắc của biển cả, thì các làn sóng đang tiến đến chồng lên nhau đường như có vẻ đồ sộ. Và người nam nào, đối với bạn hay thù, đối với người xuất sắc, tương đương, hoặc kém cỏi, trong lúc thực hành điều lợi ích hay là không lợi ích, có thể vận hành sự tiếp độ trực tiếp hay gián tiếp, không nói lời thô lỗ bất cứ lúc nào, thiếp là thuộc về người nam ấy, dầu đã chết hay còn sống.

Ác nhân hay cả cừu nhân nữa, Dù tối trời hay giữa ánh quang, Những kẻ nhân từ không ác ngữ Tử sinh ta mãi kết thân bằng.

903. Người nam nào đã đạt được một đức tính nào đó trong số các đức tính này, là kẻ thiểu trí (nghĩ rẵng): ‘Nàng Sirī đáng yêu say mê ta,’ thiếp tránh xa kẻ có bản chất ngạo mạn, đang hành xử không nhất quán ấy, tựa như tránh xa đống phân.

904. Mỗi người tự bản thân tạo ra sự may mắn, tự bản thân tạo ra sự bất hạnh, bởi vì không ai là người tạo ra may mắn hay bất hạnh cho người khác.”