Bản dịch
JA 380 — Chuyện Thiên Nữ Àsankà (Tiền thân Àsankà)
5. Āsaṅkajātaka
873. “Dây leo tên āsāvatī mọc ở khu vườn Cittalatāvana (thuộc cõi trời), một ngàn năm, nó chỉ sanh ra một trái. Chư Thiên trông chừng cây ấy cho đến khi có được trái cây lâu năm (mới ra quả ấy).
874. Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy luôn ước nguyện. Niềm ao ước có được sự kết trái là hạnh phúc. Loài chim ấy cũng luôn ước nguyện, loài lưỡng sanh ấy cũng luôn ước nguyện.
875. Và niềm ao ước của con chim đã được thành tựu dầu cho đã đi đến nơi xa xôi. Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy luôn ước nguyện. Niềm ao ước có được sự kết trái là hạnh phúc. ”
876. “Nàng quả thật đã làm ta hài lòng với lời nói, nhưng chưa làm hài lòng bằng hành động, tựa như tràng hoa sereyyaka có sắc không hương.
877. Người nào bày tỏ lời nói ngọt ngào với các bạn bè nhưng không có kết quả, không bố thí, không ban phát của cải, sự liên kết về tình bạn với người ấy bị phai nhạt.
878. Có thể làm điều gì thì nên nói điều ấy, không thể làm điều gì thì không nên nói điều ấy. Các bậc sáng suốt biết rõ người nói mà không làm.
879. Thật sự sức lực của trẫm bị cạn kiệt, và lương thực dự trữ không còn, trẫm hoài nghi về sự tiêu tùng của mạng sống. Nào, giờ đây, trẫm ra đi.”
880. “Tâu đấng thủ lãnh xa binh, chính tiếng ấy đúng là tên của thiếp, thiếp có tên ấy. Tâu đại vương, xin bệ hạ hãy đi dến gặp cha, thiếp xin thỉnh mời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Taṃ devā payirupāsanti, tāva dūraphalaṃ satiṃ;
Āsīseva † tuvaṃ rāja, āsā phalavatī sukhā.
The gods wait upon it while it is still a distant fruit. Just so should you hope, O king; for hope, when fruitful, is happiness.
Khi nó có quả ở xa, chư thiên phụng sự nó. Tâu Đại vương, Ngài chỉ nên ước nguyện, ước nguyện có kết quả là hạnh phúc.
28.
28.
28.
Āsīsateva † so pakkhī, āsīsateva † so dijo;
Tassa cāsā † samijjhati, tāva dūragatā satī;
Āsīseva tuvaṃ rāja, āsā phalavatī sukhā.
That bird hopes, that twice-born hopes, and its hope is fulfilled, though the goal is far away. Just so should you hope, O king, for hope, when fruitful, is happiness.
Con chim ấy chỉ ước nguyện, con chim sanh hai lần ấy chỉ ước nguyện. Và ước nguyện của nó được thành tựu, khi nó ở nơi xa. Tâu Đại vương, Ngài chỉ nên ước nguyện, ước nguyện có kết quả là hạnh phúc.
29.
29.
29.
Sampesi kho maṃ vācāya, na ca sampesi † kammunā;
Mālā sereyyakasseva, vaṇṇavantā agandhikā.
380. You have pleased me with your words, but you have not pleased me with your deeds, like a Sereyyaka flower, beautiful in color but without fragrance.
Ngươi thật đã làm ta hài lòng bằng lời nói, nhưng không làm ta hài lòng bằng hành động; giống như vòng hoa Sereyyaka, có sắc đẹp nhưng không có hương thơm.
30.
30.
30.
Aphalaṃ madhuraṃ vācaṃ, yo mittesu pakubbati;
Adadaṃ avissajaṃ bhogaṃ, sandhi tenassa jīrati.
One who offers sweet but fruitless words to friends, not giving, not bestowing wealth—the bond of friendship with them wears away.
Người nào đối với bạn bè mà nói lời ngọt ngào nhưng vô ích, không cho, không từ bỏ tài sản, tình bạn của người ấy với người đó bị tan vỡ.
31.
31.
31.
Yañhi kayirā tañhi vade, yaṃ na kayirā na taṃ vade;
Akarontaṃ bhāsamānaṃ, parijānanti paṇḍitā.
One should say what one does; one should not say what one does not do. The wise recognize the one who speaks but does not act.
Việc gì làm, nên nói việc ấy; việc gì không làm, không nên nói việc ấy. Bậc hiền trí nhận biết người nói mà không làm.
32.
32.
32.
Balañca vata me khīṇaṃ, pātheyyañca na vijjati;
Saṅke pāṇūparodhāya, handa dāni vajāmahaṃ.
Alas, my strength is exhausted, and I have no provisions for the journey. I fear for the destruction of my life; come now, I must depart.
Ôi, binh lực của ta đã cạn kiệt, và lương thực cũng không có. Ta nghi ngờ về sự hủy hoại sinh mạng, thôi, bây giờ ta sẽ đi.
33.
33.
33.
Etadeva hi me nāmaṃ, yaṃ nāmasmi rathesabha;
Āgamehi mahārāja, pitaraṃ āmantayāmahanti.
My name is indeed what I am, O bull among charioteers. Wait, great king; I must take leave of my father.
Tên của tôi chính là tên mà tôi đang mang, tâu bậc chiến sĩ xa. Tâu Đại vương, xin hãy chờ, chúng tôi sẽ thưa với cha.
Āsaṅkajātakaṃ pañcamaṃ.
The Āsaṅka Jātaka, the Fifth.
Bổn sanh Āsaṅka, thứ năm.