Bản dịch
JA 379 — Chuyện Núi Neru (Tiền thân Neru)
4. Nerujātaka
867. “Các con quạ đen, các bầy quạ thường, và chúng ta là cao quý trong số các loài có cánh; toàn bộ tất cả chúng ta trở nên giống nhau về màu sắc sau khi đi đến ngọn núi này.
868. Ở nơi này, các con sư tử, các con hổ, và các con chó rừng là thấp kém trong số các loài thú; toàn bộ tất cả chúng ta trở nên giống nhau về màu sắc. Ngọn núi này có tên là gì?”
869. “Mọi người đều biết ngọn núi tên Neru này là ngọn núi hạng nhất. Tất cả các sinh vật sống ở nơi này đều có màu sắc vàng.”
870. “Nơi nào có sự không kính trọng hoặc có sự xem thường đối với những người tốt, hoặc thậm chí có sự kính nể đối với những kẻ hạ liệt, không nên sống ở nơi ấy.
871. Nơi nào kẻ lười biếng và người khôn khéo, bậc dũng cảm và kẻ nhút nhát đều được tôn vinh, những người tốt không sống nơi đó, ở ngọn núi có sự hành xử không phân biệt.
872. Núi Neru này không phân loại hạ liệt, ưu tú, hay trung bình. Núi Neru có sự hành xử không phân biệt. Nào, chúng ta nên lìa bỏ núi Neru.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kākolā kākasaṅghā ca, mayañca patataṃ varā †;
Sabbeva sadisā homa, imaṃ āgamma pabbataṃ.
Ravens and flocks of crows, and we, the best of flying creatures—having come to this mountain, we all become alike in appearance.
Loài quạ, các bầy quạ, và chúng ta, những loài chim cao quý, tất cả chúng ta đều trở nên giống nhau khi đến ngọn núi này.
21.
21.
21.
Idha sīhā ca byagghā ca, siṅgālā ca migādhamā;
Sabbeva sadisā honti, ayaṃ ko nāma pabbato.
Here lions and tigers, and jackals, the lowest of beasts, all become alike in appearance. What, indeed, is the name of this mountain?
Ở đây, sư tử và cọp, và cả chó rừng, loài thú hạ đẳng, tất cả đều trở nên giống nhau. Ngọn núi này tên là gì?
22.
22.
22.
Imaṃ nerūti † jānanti, manussā pabbatuttamaṃ;
Idha vaṇṇena sampannā, vasanti sabbapāṇino.
379. People know this as Neru, the best of mountains. Here all living beings dwell, endowed with a golden color.
Con người biết ngọn núi cao quý này là Neru. Ở đây, tất cả chúng sinh sống, đều có sắc vàng óng.
23.
23.
23.
Amānanā yattha siyā, santānaṃ vā vimānanā;
Hīnasammānanā vāpi, na tattha vasatiṃ vase †.
Where there is disrespect for the good, or contempt for them, or where the inferior are honored, one should not take up residence there.
Nơi nào có sự không tôn trọng, hoặc khinh miệt đối với bậc thiện nhân, hoặc nơi kẻ thấp hèn được tôn kính, người ta không nên sống ở nơi đó.
24.
24.
24.
Yatthālaso ca dakkho ca, sūro bhīru ca pūjiyā;
Na tattha santo vasanti, avisesakare nare †.
Where the lazy and the skilled, the brave and the timid are honored alike, the good do not dwell there among people who make no distinction.
Nơi mà kẻ lười biếng và người siêng năng, kẻ anh hùng và người nhút nhát, đều được tôn kính như nhau, bậc thiện nhân không sống ở nơi đó, giữa những người không biết phân biệt.
25.
25.
25.
Nāyaṃ neru vibhajati, hīnaukkaṭṭhamajjhime;
Avisesakaro neru, handa neruṃ jahāmaseti.
This Neru does not distinguish between the low, the excellent, and the middling. Neru makes no distinction; come, let us abandon Neru!
Núi Neru này không phân biệt kẻ thấp hèn, cao quý, hay trung bình. Neru không có sự phân biệt. Nào, chúng ta hãy rời bỏ Neru.
Nerujātakaṃ catutthaṃ.
The Neru Jātaka, the Fourth.
Chuyện Bổn Sanh Neru, phẩm thứ tư.