Bản dịch
JA 378 — Chuyện Bà La Môn Darìmukha (Tiền thân Darìmukha)
3. Darīmukhajātaka
861. “Các dục là bùn nhơ, và các dục là bãi lầy, và sự sợ hãi với ba gốc rễ này đã được ta nói đến, bụi bặm và khói mù đã được ta giảng giải, sau khi từ bỏ, này Brahmadatta, xin đức vua hãy xuất gia.”
862. “Này Bà-la-môn, trẫm bị vướng mắc, bị luyến ái, bị mê đắm trong các dục. Là người tầm cầu mạng sống, trẫm không thể dứt bỏ dục có dáng vẻ hung tợn ấy. Trẫm sẽ làm không ít các phước thiện.”
863. “Trong khi được giáo huấn bởi người có lòng thương tưởng đến điều lợi ích, bởi người có lòng mong muốn sự tiến bộ, kẻ nào không làm theo lời giáo huấn, trong khi nghĩ rằng: ‘Chính điều này là tốt hơn,’ kẻ ngu muội đi đến thai bào lần này đến lần khác.
864. Kẻ ấy đi đến bào thai, ví như địa ngục, có dáng vẻ ghê rợn, nơi không đẹp đẽ đối với những người tốt lành, bị ngập tràn bởi nước tiểu và phân. Những kẻ nào có sự luyến ái chưa được xa lìa khỏi các dục, những kẻ ấy bị dính mắc, bị thèm khát, chúng không từ bỏ bụng mẹ.
865. Chúng chào đời, bị lấm lem bởi phẩn, bị bôi trét bởi máu, bị lấm lem bởi đàm. Vào khi ấy, bất cứ cái gì chúng chạm đến bằng thân, tất cả đều không có khoái lạc, toàn bộ chỉ là khổ đau.”
866. “Ta nói, sau khi nhìn thấy, không phải trong khi nghe từ người khác.
Ta nhớ lại vô số kiếp sống trước đây.
Với những kệ ngôn phong phú đã được khéo nói,
đức Phật Độc Giác Darīmukha đã giúp cho vị vua khôn ngoan thấu hiểu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Paṅko ca kāmā palipo ca kāmā, bhayañca metaṃ timūlaṃ pavuttaṃ;
Rajo ca dhūmo ca mayā pakāsitā, hitvā tuvaṃ pabbaja brahmadatta.
Sensual pleasures are a bog, sensual pleasures are a mire, and this has been declared a three-rooted fear; dust and smoke have been proclaimed by me. Having abandoned them, Brahmadatta, go forth!
Dục lạc là vũng lầy, dục lạc là bãi lún. Điều này được gọi là nỗi sợ hãi có ba gốc rễ. Ta đã tuyên bố nó là bụi bặm và khói. Này Brahmadatta, hãy từ bỏ và xuất gia đi.
15.
15.
15.
Gadhito † ca ratto ca adhimucchito ca, kāmesvahaṃ brāhmaṇa bhiṃsarūpaṃ;
Taṃ nussahe jīvikattho pahātuṃ, kāhāmi puññāni anappakāni.
378. O holy one, I am attached, impassioned, and utterly infatuated with sensual pleasures of a dreadful nature. Desiring this livelihood, I am unable to abandon them. I will perform abundant meritorious deeds.
Thưa Bà-la-môn, tôi tham đắm, say mê, và si muội trong các dục lạc khủng khiếp. Vì cần sinh kế, tôi không thể từ bỏ chúng. Tôi sẽ làm nhiều công đức.
16.
16.
16.
Yo atthakāmassa hitānukampino, ovajjamāno na karoti sāsanaṃ;
Idameva seyyo iti maññamāno, punappunaṃ gabbhamupeti mando.
When advised by a compassionate well-wisher who seeks his welfare, if one does not follow the instruction, thinking, ‘This alone is better,’ that fool enters the womb again and again.
Người nào, khi được khuyên dạy bởi người mong cầu lợi ích và có lòng thương xót, mà không làm theo lời giáo huấn, lại nghĩ rằng: ‘Chỉ có điều này là tốt hơn’, kẻ ngu đó cứ tái đi tái lại đi vào bào thai.
17.
17.
17.
So ghorarūpaṃ nirayaṃ upeti, subhāsubhaṃ muttakarīsapūraṃ;
Sattā sakāye na jahanti giddhā, ye honti kāmesu avītarāgā.
He enters that dreadful hell, filled with urine and excrement, which is fair to some and foul to others. Beings who are greedy for their own bodies do not abandon them, those who are not free from lust for sensual pleasures.
Nó đi vào nơi khủng khiếp, được ví như địa ngục, vừa tốt vừa xấu, đầy nước tiểu và phân. Những chúng sinh nào tham đắm trong thân mình không từ bỏ, những chúng sinh ấy không thoát khỏi tham ái trong các dục lạc.
18.
18.
18.
Mīḷhena littā ruhirena makkhitā, semhena littā upanikkhamanti;
Yaṃ yañhi kāyena phusanti tāvade, sabbaṃ asātaṃ dukhameva kevalaṃ.
Smeared with excrement, anointed with blood, and daubed with phlegm, they emerge. Whatever they touch with the body at that very moment is all disagreeable, purely suffering.
Phủ đầy phân, vấy bẩn bởi máu, dính đầy đờm dãi, chúng sinh ra đời. Bất cứ thứ gì chúng chạm vào bằng thân thể ngay lúc đó, tất cả chỉ toàn là không vừa ý và khổ đau.
19.
19.
19.
Disvā vadāmi na hi aññato savaṃ, pubbenivāsaṃ bahukaṃ sarāmi;
Citrāhi gāthāhi subhāsitāhi, darīmukho nijjhāpayi sumedhanti.
Having seen this for myself, I speak; not from hearing it from another. I remember many past lives. With varied and well-spoken verses, Darīmukha made the wise Sumedha understand.
Ta nói điều này do thấy, không phải do nghe từ người khác. Ta nhớ lại được nhiều tiền kiếp. Với những câu kệ hay, được khéo nói, vị Darīmukha đã làm cho vua Sumedha hiểu rõ.
Darīmukhajātakaṃ tatiyaṃ.
The Darīmukha Jātaka, the Third.
Chuyện Bổn Sanh Darīmukha, phẩm thứ ba.