Bản dịch
JA 377 — Chuyện Bà La Môn Setakeku (Tiền thân Setaketu)
2. Setaketujātaka
855. “Này con, chớ nóng giận bởi vì sự giận dữ là không tốt, cũng có nhiều việc con chưa được thấy và chưa được nghe. Này Setaketu, mẹ cha là phương hướng, các bậc xuất chúng đã nói thầy dạy học là phương hướng.
856. Các gia chủ, những người cho cơm ăn, cho nước uống và vải mặc, các bậc Thánh nhân nói hạng người ấy cũng là phương hướng. Này Setaketu, phương hướng kia là tuyệt đối (Niết Bàn), sau khi đạt đến nơi ấy, những kẻ khổ đau trở nên an lạc.”
857. “Có y da dê thô cứng, tóc bện, có răng bị đóng bợn, có bộ dạng lấm lem dơ bẩn, các vị này lẩm nhẩm các chú thuật, phải chăng các vị ấy, trong sự rèn luyện thuộc về nhân gian, là những vị hiểu biết thế gian này, và đã được hoàn toàn thoát khỏi các đọa xứ?"
858. “Tâu bệ hạ, sau khi làm các hành động xấu xa, người có nhiều kiến thức còn có thể không thực hành thiện pháp . Người đã không đạt được sự thực hành, dầu có một ngàn sự hiểu biết, không vì điều ấy mà có thể thoát khỏi khổ đau.”
859. “Người đã không đạt được sự thực hành, dầu có một ngàn sự hiểu biết, không vì điều ấy mà có thể thoát khỏi khổ đau. Ta nghĩ rằng các sự hiểu biết là không có kết quả, chính sự thực hành với sự tự chế ngự là chân lý.
860. “Các sự hiểu biết không hẳn là không có kết quả, chính sự thực hành với sự tự chế ngự là chân lý. Bởi vì người sau khi học tập các sự hiểu biết thì đạt được danh tiếng, còn với sự thực hành, người đã được huấn luyện đạt đến sự an tịnh.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Mā tāta kujjhi na hi sādhu kodho, bahumpi te adiṭṭhamassutañca;
Mātā pitā disatā † setaketu, ācariyamāhu disataṃ pasatthā.
377. My dear Setaketu, do not be angry, for anger is not good; there is much that is unseen and unheard by you. Mother and father are the eastern direction; the praised ones call the teacher the southern direction.
Này con, chớ nên tức giận, cơn giận thật không tốt. Có nhiều điều con chưa thấy và chưa nghe. Này Setaketu, mẹ và cha là phương đông. Bậc đáng tán thán gọi thầy giáo là phương nam.
9.
9.
9.
Agārino annadapānavatthadā †, avhāyikā tampi disaṃ vadanti;
Esā disā paramā setaketu, yaṃ patvā dukkhī sukhino bhavanti.
Householders who are givers of food, drink, and clothing are inviters of righteous ascetics and brahmins; this they also call a direction. This is the supreme direction, O Setaketu, having reached which the suffering become happy.
Những người tại gia, người cho cơm ăn, nước uống, và y phục, người mời thỉnh (các Sa-môn, Bà-la-môn), họ cũng gọi đó là một phương. Này Setaketu, đây là phương tối thượng, nơi mà khi đạt đến, những người đau khổ trở nên an lạc.
10.
10.
10.
Kharājinā jaṭilā paṅkadantā, dummakkharūpā † yeme jappanti mante;
Kacci nu te mānusake payoge, idaṃ vidū parimuttā apāyā.
Those who wear rough hides, have matted hair, dirt-caked teeth, and a squalid appearance, who recite sacred chants—I wonder, being established in human practices, do they know this and are they freed from the woeful states?
Những vị mặc da thú thô, bện tóc, răng cáu bẩn, hình sắc xấu xí, những vị tụng đọc các thần chú, liệu rằng trong nỗ lực của con người, họ có biết được điều này và được giải thoát khỏi ác đạo chăng?
11.
11.
11.
Pāpāni kammāni katvāna rāja, bahussuto ce na † careyya dhammaṃ;
Sahassavedopi na taṃ paṭicca, dukkhā pamuñce caraṇaṃ apatvā.
O king, if one who is very learned, having done evil deeds, does not practice the Dhamma, not having attained right conduct, even one who knows a thousand Vedas is not freed from suffering by relying on them.
Tâu đại vương, sau khi đã làm các nghiệp ác, nếu người học rộng mà không thực hành Chánh pháp, thì dù biết ngàn bộ Vệ-đà, do không đạt đến sự thực hành, người ấy cũng không thể giải thoát khỏi khổ đau nhờ vào kiến thức đó.
12.
12.
12.
Sahassavedopi na taṃ paṭicca, dukkhā pamuñce caraṇaṃ apatvā;
Maññāmi vedā aphalā bhavanti, sasaṃyamaṃ caraṇameva † saccaṃ.
Not having attained right conduct, even one who knows a thousand Vedas is not freed from suffering by relying on them. I think the Vedas are fruitless; conduct with self-restraint is the truth itself.
Dù biết ngàn bộ Vệ-đà, do không đạt đến sự thực hành, người ấy cũng không thể giải thoát khỏi khổ đau nhờ vào kiến thức đó. Tôi cho rằng các kinh Vệ-đà là vô ích, chỉ có sự thực hành cùng với sự tự chế mới là chân thật.
13.
13.
13.
Na heva vedā aphalā bhavanti, sasaṃyamaṃ caraṇameva saccaṃ;
Kittiñhi pappoti adhicca vede, santiṃ puṇeti † caraṇena dantoti.
The Vedas are not entirely fruitless, for conduct with self-restraint is the truth itself. One indeed attains fame by mastering the Vedas, but it is through conduct that the tamed one reaches peace.
Các kinh Vệ-đà không hẳn là vô ích, nhưng sự thực hành cùng với sự tự chế mới là chân thật. Nhờ học Vệ-đà, người ta đạt được danh tiếng; nhờ thực hành mà được chế ngự, người ta đạt đến sự tịch tịnh.
Setaketujātakaṃ dutiyaṃ.
The Setaketu Jātaka, the Second.
Chuyện Bổn Sanh Setaketu, phẩm thứ hai.